Xu Hướng 10/2023 # “Những Góc Nhìn Sâu Sắc Về Cảm Xúc Buồn Qua Các Tác Phẩm Hoạt Hình Tuyệt Đẹp” # Top 10 Xem Nhiều | Yvju.edu.vn

Xu Hướng 10/2023 # “Những Góc Nhìn Sâu Sắc Về Cảm Xúc Buồn Qua Các Tác Phẩm Hoạt Hình Tuyệt Đẹp” # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết “Những Góc Nhìn Sâu Sắc Về Cảm Xúc Buồn Qua Các Tác Phẩm Hoạt Hình Tuyệt Đẹp” được cập nhật mới nhất tháng 10 năm 2023 trên website Yvju.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Advertisement

Cảm xúc buồn là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của chúng ta. Nó xuất hiện khi ta gặp phải những trở ngại, thất bại hay mất mát trong cuộc đời. Tuy nhiên, đôi khi chúng ta không biết cách giải tỏa cảm xúc này và nó ngày càng tích tụ lớn hơn. Và đây chính là lúc các tác phẩm hoạt hình tuyệt đẹp với những góc nhìn sâu sắc về cảm xúc buồn xuất hiện và giúp chúng ta tìm lại niềm tin và hy vọng trong cuộc sống. Cùng tìm hiểu những góc nhìn sâu sắc về cảm xúc buồn qua các tác phẩm hoạt hình đầy ý nghĩa trong bài viết này.

Không chỉ trong những tựa phim thực các đạo diễn mới làm chủ đề buồn, ngay trong cả phim hoạt hình thì những câu chuyện buồn cũng được khai thác một cách mạnh mẽ. Trong hoạt hình thì những hình ảnh buồn luôn được đánh giá rất cao vì đó là nơi họa sĩ có thể hết mình sáng tạo biểu cảm, bối cảnh,… Trong bài viết này Thủ thuật phần mềm sẽ gửi đến các bạn những hình ảnh hoạt hình buồn đẹp nhất.

Ảnh buồn hoạt hình cực đẹp

Tham Khảo Thêm:

 

Hướng Dẫn Chèn và Sao Chép Tập Tin PDF vào Tài Liệu Word Một Cách Nhanh Chóng và Chính Xác Nhất

Ảnh Doreamon buồn

Ảnh hoạt hình buôn

Ảnh hoạt hình buồn bã

Ảnh hoạt hình buồn chán

Ảnh hoạt hình buồn chán cực đẹp

Ảnh hoạt hình buồn chán muốn khóc

Ảnh hoạt hình buồn cô đơn đẹp

Ảnh hoạt hình buồn cô đơn

Ảnh hoạt hình buồn cô đơn

Ảnh hoạt hình buồn cực đẹp

Ảnh hoạt hình buồn cực đẹp

Ảnh hoạt hình buồn đáng yêu đẹp

Ảnh hoạt hình buồn đáng yêu

Ảnh hoạt hình buồn dễ thương đẹp

Ảnh hoạt hình buồn đẹp nhất

Ảnh hoạt hình buồn đẹp nhất

Ảnh hoạt hình buồn đẹp

Ảnh hoạt hình buồn khóc

Ảnh hoạt hình buồn khóc

Ảnh hoạt hình buồn một mình

Ảnh hoạt hình buồn một mình

Ảnh hoạt hình buồn sâu lắng đẹp

Ảnh hoạt hình buồn sâu lắng

Ảnh hoạt hình buồn Simpson

Ảnh hoạt hình cô đơn đẹp

Ảnh hoạt hình đẹp buồn chán

Ảnh hoạt hình đẹp buồn đáng thương

Ảnh hoạt hình đẹp buồn

Ảnh hoạt hình đẹp cô đơn

Ảnh hoạt hình đẹp đơn giản

Ảnh hoạt hình Doreamon buồn đẹp

Ảnh hoạt hình khóc buồn cực đẹp

Ảnh hoạt hình Mickey buồn

Ảnh hoạt hình Simpson buồn dễ thương

Ảnh hoạt hình Simpson meme

Ảnh hoạt hình tình yêu buồn

Hình ảnh buồn trong phim hoạt hình

Hình ảnh hoạt hình buồn chán

Hình ảnh hoạt hình buồn cô đơn

Hình ảnh hoạt hình buồn cực đẹp

Hình ảnh hoạt hình buồn cute

Hình ảnh hoạt hình buồn đáng yêu

Tham Khảo Thêm:

 

Tổng Hợp Hình Ảnh Luffy Đẹp Nhất – Nghệ thuật hiển thị hình ảnh của Luffy

Hình ảnh hoạt hình buồn dễ thương

Hình ảnh hoạt hình buồn khóc đẹp

Hình ảnh hoạt hình buồn

Hình ảnh hoạt hình cô đơn buồn đẹp nhất

Hình ảnh hoạt hình cô đơn buồn

Hình ảnh Simpson buồn

Nhìn vào một bức tranh hoạt hình đầy màu sắc, chúng ta có thể dễ dàng cảm nhận được những cung bậc cảm xúc khác nhau, từ niềm vui, sự hân hoan cho đến nỗi buồn tuyệt vọng. Những tác phẩm hoạt hình tuyệt đẹp đã mang đến cho chúng ta những góc nhìn sâu sắc về cảm xúc buồn, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những khó khăn mà mọi người phải đối mặt trong cuộc sống và tìm ra cách để vượt qua nó. Bằng những hình ảnh đẹp và cốt truyện sâu sắc, những tác phẩm hoạt hình này đã truyền đạt đến chúng ta thông điệp quan trọng về sự quan tâm, sự chia sẻ và tình người. Chúng ta cần học hỏi và áp dụng những bài học từ những tác phẩm hoạt hình này để có thể hạnh phúc và đạt được thành công trong cuộc sống.

Advertisement

Từ Khoá Tìm Kiếm Liên Quan: 

10. Cảm nhận sâu sắc.

Advertisement

Khám Phá Cảnh Sắc Nhật Bản Qua Góc Nhìn Của Chàng Trai Việt Nam

Ong Thế Sĩ, 21 tuổi, hiện là thực tập sinh ngành xây dựng tại tỉnh Osaka, Nhật Bản. Cậu cho biết là đã theo đuổi đam mê săn ảnh từ những năm 17 tuổi. Sĩ đã tham gia vào các hội, nhóm nhếp ảnh trên mạng để học hỏi và đặc biệt có miền yêu thích với ảnh phong cảnh, đời thường và cả ảnh chụp từ trên cao (drone).

Trước khi qua Nhật năm 2023, anh chàng có các chuyến trải nghiệm săn ảnh khắp Tây Bắc Việt Nam. Vốn là người mê xê dịch và nhiếp ảnh, khi có thời gian Sĩ lên đường chụp lại cảnh sắc thiên nhiên của đất nước mặt trời mọc. Trong ảnh anh chàng đứng chụp tại dãy núi Tateyama ở tỉnh Toyama.

Cảnh sắc thiên nhiên Nhật Bản

Đây là hình ảnh gần 300 lều trại ở dưới chân núi Tateyama, tỉnh Toyama. Đây là địa điểm cấm trại nổi tiếng của Nhật Bản khi bao quanh nó là các dãy núi tuyết cao. Trong bức ảnh những túp lầu đầy màu sắc rực rỡ trong ánh hoàng hôn buổi chiều.

Thế Sĩ chia sẻ, cậu bắt đầu hành trình leo lên đỉnh Oyama khi đếm xuống. Ngọn núi Oyama cao 3.003 m và cậu mất 4 tiếng để hoàn thành chặn đường leo lên đỉnh núi của mình, cũng xứng đáng khi có thể bắt lấy bình minh trên đỉnh Tateyama.

“Leo vào cuối tháng 7 tuy nhiên tuyết vẫn còn và đường leo khá nguy hiểm, buộc phải có đồ bảo hộ. Và dù được nhắc đến là một ngọn núi đơn lẻ, nhưng trên thực tế, Tateyama có ba đỉnh núi, trong đó nổi tiếng nhất là đỉnh Oyama. Ngoài núi Phú Sĩ, núi Tateyama ở tỉnh Toyama cùng với núi Hakusan tỉnh Gifu là ba “núi thánh” nhất định du khách phải leo khi đến Nhật Bản”, Thế Sĩ chia sẻ.

Ruộng bậc thang Maruyama Sendaima ở tỉnh Mie trong mùa nước đổ, uốn lượn mềm mại.

Màn đêm thơ mộng

Maruyama Sendaima không chỉ đẹp với cảnh hoàng hôn rực rỡ sắc màu. Khi mặt trời nhường chổ cho màn đêm cũng là thời điểm của âm thanh côn trùng cùng ếch nhái vang lên ở nơi đây. Chóng ngợp trước khung cảnh làng quê Nhật Bản khi từng chiếc đèn xe nối đuôi nhau chạy qua những ruộng bật thang tựa như các vệt sáng mềm mại bên những thửa ruộng loang loáng nước.

Theo Thế Sĩ, có lẽ nổi tiếng nhất ở tỉnh Wakayama là thác Nachi nằm ở thị trấn Nachikatsuura. Với độ cao 133 m, rộng 8 m, thác Nachi là một trong những biểu tượng khi nhắc đến Nhật Bản. Toàn cảnh ngọn thác, làm phông nền phía sau tháp chùa Seigantoji tạo nên khung cảnh ấn tượng.

Tỉnh Hyogo nổi tiếng với cảng Kobe. Đây là một trong những trung tâm kinh tế và cảng biển quan trọng của Nhật. Nằm giữa bờ biển và dãy núi Rokko, thành phố cảng có hình dáng rất dài và hẹp. Khung cảnh về đêm ở cảng Kobe vốn nhộn nhịp và huyên náo với những tòa nhà cao tầng. Tháp cảng Kobe cao 108 m rực rỡ ánh đèn đêm là một trong những cảnh tượng ngoại mục nhất thành phố.

Hệ thống núi, đảo, sông ngòi

Nằm giáp với Kyoto, tỉnh Nara là vô số những địa điểm du lịch với núi, đảo và sông ngòi tuyệt đẹp. Hình trên là khung cảnh chụp từ trên cao tại Shimokitayama, quận Yoshino, Nara, một hòn đảo với hình dáng tựa trái tim giữa hồ nước ngọt màu xanh ngọc bích.

Nhắc đến Nhật Bản, đầu tiên du khách nghĩ ngay đến những ngôi chùa với kiến trúc cổ kính, xúng xính các cô gái diện kimono bên hoa anh đào.

“Ảnh này chụp tại con dốc Sannenzaka hướng về chùa Kiyomizu, với phong cảnh hữu tình, đậm chất phố Kyoto. Hai bên sườn núi là những ngôi nhà mang kiến trúc Nhật cổ. Sannenzaka cũng thường được gọi là “Bình an dốc” vì rất nhiều sản phụ đi qua con đường này để đến chùa cầu sinh con bình an”, Thế Sĩ chia sẻ.

Ngoài vẻ đẹp của mùa hoa anh đào, cố đô Kyoto còn được tô điểm bởi loài hoa cẩm tú cầu nở rộ vào tháng 6-7 khi mùa mưa bắt đầu. Loài hoa này thường được trồng nhiều ở các khu vườn quanh đền, chùa của Nhật Bản. Bức ảnh trên được chụp tại chùa Gansenji vào một ngày mưa.

Thành phố Osaka nổi tiếng

Nhắc đến Osaka thì du khách sẻ liên tưởng ngay đến lâu đào Osaka nổi tiếng bởi sự cổ kính và tráng lệ của nơi đây. Lâu đài là biểu tượng và là điểm du lịch hút khách của Nhật Bản. Đây cũng là địa điểm ngấm hoa anh đào ưa thích của người dân Nhật Bản và du khách. Đến đây ngắm hoa, du khách còn có thể cảm nhận được bầu không khí truyền thống, đặc trưng của Nhật Bản.

Khi trời vào thu, khoảng tháng 11, khung cảnh Osaka lại mang một vẻ cuốn hút khác với những cây phong, rẻ quạt đổi sắc màu, điểm tô cho hồ Komyoike có dòng nước xanh thẳm.

Chia sẻ sau những chuyến du lịch khám phá Nhật Bản, Thế Sĩ thấy Nhật có rất nhiều cảnh đẹp, mỗi nơi lại có một khung cảnh khác nhau. Ngoài ra, người Nhật tốt bụng và hiền lành, giữ được rất nhiều truyền thống lâu đời. Hiện nay, do ảnh hưởng của Covid-19, Nhật Bản đã ra các chỉ định về tình trạng khẩn cấp tại một số tỉnh, tuy nhiên, ngành du lịch đang dần dần mở cửa lại.

Đăng bởi: Lệ Trần

Từ khoá: Khám phá cảnh sắc Nhật Bản qua góc nhìn của chàng trai Việt Nam

Những Câu Nói Hay Về Gia Đình Ý Nghĩa, Sâu Sắc, Nên Đọc Nhất

5/5 – (1 bình chọn)

Những câu nói hay về cuộc sống gia đình sâu sắc, ý nghĩa

1. Sự vô ơn là điều đáng khinh nhất, nhưng kiểu vô ơn phổ biến và lâu đời nhất là sự vô ơn của con cái đối với cha mẹ.

2. Nếu ta không nuông nấng cha mẹ lúc còn sống thì có ích gì mà cúng tế khi đã chết.

3. Tình yêu và sự quan tâm lo lắng của cha mẹ là món quà quý giá nhất mà con được tặng từ khi mới chào đời.

4. Cha mẹ không mong đợi con cái trả công nuôi dưỡng nhưng có bao giờ những đứa con quý trọng sự hy sinh vô điều kiện này của cha mẹ chưa?

5. Gia đình là nơi không ai bỏ rơi ai và yêu thương ai đó vô điều kiện.

6. Gia đình là sự nghiệp cuối cùng. Tất cả mọi sự nghiệp khác đều phục vụ cho một mục đích – đó chính là gia đình.

7. Có một nơi để về đó là nhà. Có những người để yêu thương, đó là gia đình. Có được cả hai, đó là hạnh phúc.

8. Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về.

9. Gia đình là trường học của lòng khoan dung, vì nó luôn tồn tại và dạy chúng ta cách sống với những người khác.

10. Chúng ta thường hay coi trọng những thứ xung quanh, và thường mơ ước đến những thứ không thể với tới được nhưng lại không quan tâm đến những điều gần gũi nhất.

11. Người ta có rất nhiều nơi để đến, nhưng chỉ có một chốn để quay về.

12. Không tình yêu nào vĩ đại như tình yêu của mẹ. Không sự quan tâm nào to lớn bằng sự quan tâm của cha.

13. Hãy dành thời gian cho gia đình ngay cả khi bạn không hề biết điều gì đã và đang xảy đến với cuộc đời của mình

14. Gia đình là thứ mà ta đã có trước cả khi lọt lòng, gần gũi và quen thuộc đến mức nhiều người dường như quên mất, nhãng đi, bỏ mặc để đi tìm kiếm hạnh phúc ở đâu đó xa xôi… Chỉ đến khi vấp ngã mới chợt tỉnh, thấy rằng cuối cùng vẫn là gia đình mới là nơi bao dung, che chở cho mình.

15. Tất tả những kho báu trên Trái Đất, không thể sánh bằng hạnh phúc gia đình

Những caption về gia đình, status hay về gia đình hạnh phúc tràn ngập niềm vui

1. Cho dù mọi thứ có quay lưng lại với ta thì có một thứ tên gọi Gia đình mãi mãi không hề thay đổi vẫn lặng thầm đi bên ta, vẫn dang tay đón tôi trở về.

2. Gia đình chính là nơi con tìm về khi mệt nhoài trên đường đời đầy rẫy chông gai…

3. Con cái luôn đòi hỏi quyền lợi từ cha mẹ, nhưng có mấy ai hoàn thành được nghĩa vụ của mình với đấng sinh thành?

4. Gia đình là nơi mà khi nghĩ về bạn thấy tâm hồn mình thật bình yên…

5. Điều khác biệt giữa gia đình và xã hội chính là tình thương yêu.

6. Gia đình là nơi bạn có thể sống thật nhất mà không phải tạo cho mình một vỏ bọc nào cả

7. Điểm tựa quan trọng nhất trong cuộc đời bạn luôn là gia đình dù bạn có muốn thừa nhận hay không . Đó vẫn là sự thật.

8. Người rơi nước mắt nhiều nhất vì bạn là cha mẹ, người cười nhiều nhất vì bạn cũng là cha mẹ.

9. Yêu thương gia đình nhiều nhất bạn có thể vì đó là điều tuyệt vời nhất mà thượng đế ban tặng cho mỗi người.

10. Nhà không cần quá lớn, miễn là trong đó có đủ yêu thương.

11. Gia đình là nơi cuộc sống bắt đầu và tình yêu không bao giờ kết thúc.

12. Ba là cây nến vàng, mẹ là cây nến xanh, con là cây nến hồng, ba ngọn nến lung linh. A à á a a thắp sáng một gia đình.

13. “Mỗi cây mỗi hoa – mỗi nhà mỗi cảnh” – Ai rồi cũng có cuộc sống gia đình của mình riêng, cho dù là trải qua bao nhiêu chuyện buồn đau trong gia đình nhưng gia đình chính là nơi tìm về của các bạn.

14. Một gia đình hạnh phúc chưa chắc nằm ở chỗ ai ai cũng phải cười vui. Mà đối với tôi, một gia đình hạnh phúc trước hết phải luôn mạnh khỏe, hiểu biết và thông cảm lẫn nhau, có kế hoạch để kinh tế gia đình đủ sống…

15. Trong cuộc sống, ai cũng cần ít nhất một điểm tựa, điểm tựa đó là niềm tin, sự kì vọng, mục đích, tình yêu… và một điểm tựa vững chất đó chính là gia đình bạn.

Những câu nói hay về tình cảm gia đình chứa đựng yêu thương của ba mẹ và con cái

1. “Mẹ là người có thể thay thế bất kì ai. Nhưng không ai có thể thay thế được Mẹ.” – Gaspard Mermillod

2. Điều quan trọng nhất mà một người cha có thể làm cho con cái mình là yêu thương mẹ của chúng. – Theodore Hesburgh

3. “Tương lai của con là công trình của mẹ.” – Napoleon

4. Cha vừa là người hướng đạo, kẻ đỡ đầu, quan tòa và bậc sư phó của con. – Alibert

5. Trái tim của người mẹ là vực sâu muôn trượng mà ở dưới đáy, bạn sẽ luôn tìm thấy sự thứ tha. – Balzac

6. Tôi luôn có niềm tin vào bậc sinh thành. Nếu yêu thương, họ sẽ luôn che chở và đặt ta ngoài vùng “nước xoáy nguy hiểm”. Điều đó có nghĩa đôi khi ta không thể biết thực sự những gì cha mẹ đã phải chịu đựng. Để rồi sau đó đối xử không tốt với họ theo cách mà ta không bao giờ phải trải qua. – Mitch Albom.

7. “Chúa không thể có mặt ở khắp mọi nơi. Vì thế Người đã sinh ra Mẹ.” – Proverbe Yiddish

8. Chúng ta cuối cùng đều sẽ giống cha mẹ mình ít nhất đôi chút, đặc biệt trong cách ta đối xử với con cái mình. – Benjamin Spock

9. Chúng ta không bao giờ biết được tình yêu bao la mà cha mẹ dành cho mình chỉ tới khi chúng ta trở thành những ông bố, bà mẹ thực sự. – Henry Ward Beecher

10. Khi bạn là một người mẹ, bạn không bao giờ thực sự cô độc trong suy nghĩ của mình. Một người mẹ luôn phải nghĩ hai lần, một lần cho bản thân và một lần cho con cái – Sophia Loren.

11. Tình yêu của người mẹ là yên bình. Nó không cần bạn phải đạt được, nó không cần bạn phải xứng đáng.”– Erich Fromm

12. Bạn không cần phải đắn đo phân tích cha chúng ta là người như thế nào vì lúc nào lòng cha cũng thật vĩ đại. – Anne Sexton

13. Trên trái đất này, không có món quà nào ngọt ngào bằng tình yêu thương của người cha dành cho con mình. – Cicero

14. Những người làm cha làm mẹ không quan tâm tới công lý, cái họ muốn là sự yên bình và hạnh phúc cho con cái của mình. – Bill Cosby

15. Tình yêu đích thực đầu tiên của một cô gái chính là người cha. – Marisol Santiago

Những bài thơ hay về gia đình

Gia đình là nơi có mẹ, có cha, những con người yêu thương chúng ta vô điều kiện. Là điểm tựa cho bạn mỗi khi mệt mỏi, về với gia đình, những buồn phiền của bạn sẽ được giải tỏa. Hy vọng những bài thơ hay về gia đình sau đây sẽ giúp bạn thể hiện được tình cảm với gia đình yêu thương của mình!

1. Gia đình có cũng như không

Mẹ con xa cách vợ chồng bỏ nhau

Mới nghe câu chuyện mà rầu

Bốn năm ròng rã tìm đâu mẹ hiền

Cha thì đi vắng triền miên

Chỉ ông bà nội kề bên bốn mùa

Tội cho con trẻ ngây thơ

Ước ao có đủ sớm trưa cả nhà

Ngó sang bè bạn gần xa

Ai ai cũng vậy mẹ cha cận kề

Bỗng dưng nước mắt tràn trề

Sinh thành dưỡng dục có nghe thấy gì

2. Ai mà không có mẹ cha

Ai mà không biết ở nhà có con

Vậy mà đôi lúc vẫn quên

Tiền tiêu xả láng …là quyền của ta

Khi đó lại thấy ở nhà

Mẹ phải lọ mọ …lân la ngoài đường

Con thì cũng rất đáng thương

Học hành bập bõm…tìm đường mưu sinh

Bớt tiêu đi mất chục nghìn

Mẹ và con cái…gió sương làm gì

Ai ơi hãy nghĩ lại đi

Giúp mẹ những gì thì hãy giúp ngay

Kẻo mai nhắm mắt xuôi tay

Có làm má lớn chẳng hay tý nào

3. Cuộc đời khốn khó bể dâu

Cái nghèo đeo bám đã lâu chẳng rời

Nhiều khi ngẩng mặt kêu trời

Bao giờ mới hết cuộc đời khó khăn

4. Có những đêm gói chặt cô đơn vào lòng

Nhìn chiếu chăn lạnh lẽo mà hờn tủi

Ước mái gia đình hạnh phúc bớt lủi thủi

Nhưng nay quá tuổi lập thất thành gia

Nỗi buồn cô quạnh bơ vơ lúc về già

Mới thấy thời gian vun vút biết mấy

Lỡ mai ốm đau ai người săn sóc

Trời trở gió mệt mỏi cam chịu qua dần

Sông nào cũng chảy về biển hòa tan

Kiếp người tựa án phù phân nhân thế

Như loài hoa sớm nở rồi tàn phai hết

Khi bóng chiều tà dần xuống tia nắng nhạt nhòa

Ngẫm nghĩ thay phận mình lắm xót xa

Đời không gia đình yên ấm che chở

Viết hoài mấy vần thơ đầy than thở

Thuyền heo hút mất giữa dòng khơi

5. Khi rời xa mới biết ý nghĩa của gia đình

Mới biết niềm vui trong từng cử chỉ

Mới biết hạnh phúc phải đâu nào xa xỉ

Vì chỉ một nụ cười cũng đủ ấm con tim…

Giữ mãi gia đình trong một góc riêng

Để nhớ để mong để âm thầm cầu nguyện:

– Xin nỗi buồn đừng hằn trên mặt mẹ

Và nụ cười đừng chia cách môi cha…

Gia đình thân thương trong hình bóng quê nhà

Nơi có mẹ cha có ông bà anh chị

Có cả xóm giềng và những người tri kỷ

Luôn cạnh bên chia sẻ nỗi vui buồn…

6. Với bố mẹ con luôn là đứa trẻ

Vẫn thơ ngây, bé bỏng chẳng biết gì

Vẫn cần bảo ban cần yêu thương bảo bọc

Dù tuổi con chẳng bé bỏng nữa rồi…

Và khi con nghĩ rằng con khôn lớn

Con ương ương mình đúng chẳng nghe lời

Làm bố mẹ buồn con nào đâu hay biết

Chỉ mình con – con vui sướng… riêng con…

Rồi con lớn thêm con biết nhiều hơn trước

Con nghĩ nhiều hiểu suy nghĩ mẹ cha:

Tất cả vì con, cho con, con tất cả

Hạnh phúc cuộc đời là hạnh phúc con yêu…

Và thời gian cứ chầm chậm bước đi

Cha mẹ già hơn để cho con chững chạc

Nhưng khi khó khăn con trở về bên cha mẹ

Ước một điều: Con vẫn mãi bé con…

7. Gia đình hạnh phúc

Xuân qua én cũng đi qua

Niềm vui ở lại với ta suốt đời

Công thành danh toại rạng ngời

Gia đình êm ấm ơn trời riêng ban.

Đâu là hạnh phúc thế gian

Có cha có mẹ muôn vàn yêu thương

Con cái hiếu thảo bốn phương

Vui lòng cha mẹ vượt tường khổ đau.

Hạnh phúc ơi đến mau mau

Và luôn ở lại cho nhau tiếng cười

Gia đình là lộc bởi trời

Con cái là lộc trong người mẹ cha.

8. Ngôi nhà mới với ân tình mở ngỏ

Đón em về với tình khúc liên thơ

Nhà tuy nhỏ xây bằng tình ta đó

Mái tranh nghèo hai đứa dệt mộng mơ

Nhà mới xây nên gió lùa khe hở

Lấy thơ tình ta che nắng che mưa

Mặc người đời đi sớm với về trưa

Ta đóng cửa làm thơ tình trong dó

Rồi mai đây một bầy con tám đứa

Noi gương mình chúng nó sẽ làm thơ

Tiếp liên thơ của ba mẹ bây giờ

Hạnh phúc đó muôn đời em ghi nhớ.

9. Hạnh phúc đơn sơ của tác giả Lê Văn Bình

Nhà người xe máy, xe ga

Chỉ cần dậm số gần xa biết liền

Bởi vì họ có lắm tiền

Gia đình khá giả hiển nhiên bình thường.

Nhà mình dãi nắng dầm sương

Có con xe đạp khắp đường đi theo

Dẫu rằng vật chất tuy nghèo

Đi đâu mình cũng cùng đèo bên nhau

10. Gia đình của tác giả Minh Loan

Nên một gia đình do trời định

Gặp nhau duyên số bà nguyệt se

Tình yêu vun đắp nén thành quả

Hạnh phúc vun vầy ta có ta.

Giữ gìn hạnh phúc là do ta

Hãy cố cùng nhau sống hiền hòa

Tấm lòng nhân Đức sẽ được hưởng

Gia đình sum vầy lại hòa ca.

Những câu nói động viên gia đình không hạnh phúc

Bạn đừng nhìn thấy một gia đình nào đó hạnh phúc là nghĩ họ không từng trải qua những sức mẽ, sự cãi vã… vì họ đã trãi. qua rồi cho nên biết cách để xây dựng một tình cảm gia đình tốt hơn.

Dù thế nào đi nữa thì hãy luôn yêu thương gia đình mình hơn nữa, đừng để đến lúc không kịp nữa rồi thì mọi chuyện không thể cứu vãn. Gia đình nào không cãi vã, gia đình nào không có chia cắt và sau đó sẽ là một mái ấm nếu mọi người hướng vào nhau.

Dù cuộc sống gia đình có bao sóng gió, bao lần phải rơi lệ và dẫn đến sự chia tay…nhưng nếu gia đình đó nếu kéo lại dù chỉ là một niềm tin nhỏ thôi cũng đủ là keo dính giúp các thành viên trong gia đình trở nên hạnh phúc hơn.

Bạn đừng buồn với cuộc sống hiện tại của gia đình bạn, dẫu sao đó là một sự gắn kết xây dựng trong suốt một thời gian dài. Đừng vì những sứt mẻ không đáng mà đánh mất cả một gia đình, một mái ấm mà biết bao nhiêu người muốn mà cũng không được.

Trên thế giới này không có một gia đình nào là hoàn hảo…bạn nhìn thấy họ hạnh phúc. Họ ấm áp nhưng bạn đâu biết họ phải trải qua bao nhiêu lần hàn gắn. Bao nhiêu sự tổn thương sự cãi vã để có được cuộc sống hạnh phúc như ngày hôm nay.

Những câu nói hay về gia đình bằng tiếng anh

Không chỉ có những câu nói tiếng Anh hay về tình yêu, những câu nói hay về gia đình bằng tiếng anh vô cùng ý nghĩa và sâu sắc giúp ta cảm nhận được tình yêu thương của gia đình thật nhiều, giúp ta biết quý trọng và chăm lo cho gia đình mình nhiều hơn. Những câu danh ngôn về tình cảm gia đình, những câu tiếng anh về gia đình trong cuộc sống sẽ là những câu nói hay để mỗi người chúng ta luôn cố gắng vì gia đình mình thật nhiều, vì hạnh phúc gia đình bền lâu.

1. Family means no one gets left behind or forgotten.

Gia đình nghĩa là không ai bị bỏ rơi hay quên lãng.

2. Siblings: children of the same parents, each of whom is perfectly normal until they get together.

Anh chị em: những đứa trẻ cùng cha mẹ, mỗi đứa đều rất bình thường cho đến khi chúng sát cánh bên nhau.

3. Home is where you are loved the most and act the worst.

Nhà là nơi bạn được yêu thương nhất nhưng hành xử tệ nhất.

4. What can you do to promote world peace? Go home and love your family.

Bạn có thể làm gì để tuyên truyền về hòa bình? Về nhà và yêu thương gia đình của bạn.

5. To understand your parents’ love, you must raise children yourself.

Tự nuôi con mới thấu hiểu tình yêu của cha mẹ.

6. Charity begins at home, but should not end there.

Lòng nhân ái bắt nguồn từ gia đình, nhưng không nên kết thúc luôn ở đó.

7. A good marriage would be between a blind wife and a deaf husband.

Một cuộc hôn nhân tốt là giữa bà vợ mù và ông chồng điếc.

8. Family is not an important thing, it’s everything.

Gia đình không phải là thứ quan trọng, nó là tất cả mọi thứ.

9. The power of finding beauty in the humblest things makes home happy and life lovely.

Khả năng tìm được cái đẹp trong những điều nhỏ bé nhất khiến gia đình trở nên hạnh phúc và cuộc đời trở nên đáng yêu.

10. A man travels the world over in search of what he needs, and returns home to find it.

Một người đi khắp thế gian để lùng sục những điều anh ta muốn, và trở về nhà để tìm thấy nó.

11. When everything goes to hell, the people who stand by you without flinching – they are your family.

Khi mọi thứ rơi xuống địa ngục, những người còn lại bên cạnh bạn mà không do dự – họ là gia đình của bạn.

12. Spare the rod and spoil the child – that is true. But, beside the rod, keep an apple to give him when he has done well.

Thương cho roi cho vọt – điều đó là đúng. Nhưng bên cạnh chiếc roi, hãy giữ một quả táo để tặng đứa trẻ khi chúng làm tốt.

13. A happy family is but an earlier heaven.

Một gia đình hạnh phúc là một thiên đường đến sớm.

14. A mother who is really a mother is never free.

Người mẹ thật sự chẳng bao giờ rảnh rỗi.

15. Don’t handicap your children by making their lives easy.

Đừng gây bất lợi cho con cái bạn bằng việc cho chúng cuộc sống dễ dàng.

16. Families are like music, some high notes, some low notes, but always a beautiful song.

Gia đình giống như một bản nhạc có nốt thăng, nốt trầm, nhưng luôn là một ca khúc tuyệt đẹp.

17. If you have a place to go, it is a home. If you have someone to love, it is a family. If you have both, it is a blessing.

Nếu bạn có một nơi để về, đó gọi là nhà. Nếu bạn có một người để yêu thương, đó gọi là gia đình. Nếu bạn có cả hai, đó là một phước lành.

18. The family is one of nature’s masterpieces.

Gia đình là một kiệt tác của tạo hóa.

19. A man should never neglect his family for business.

Một người đàn ông không bao giờ nên coi gia đình nhẹ hơn sự nghiệp của anh ta.

20. Without a family, man, alone in the world, trembles with the cold.

Không có gia đình, người ta cô độc giữa thế gian, run rẩy trong giá lạnh.

6 Bài Soạn “Cách Làm Bài Văn Biểu Cảm Về Tác Phẩm Văn Học” Lớp 7 Hay Nhất

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 6

A. Kiến thức trọng tâmI. Tìm hiểu cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học1. Đọc bài vănCẢM NGHĨ VỀ MỘT BÀI CA DAOĐêm qua ra đứng bờ aoTrông cá cá lặn, trông sao sao mờ…

Bài làm:

Quyện điểu quy cựu lâm”

(Cáo chết tất quay đầu về núi gò

Bài tập 2: trang 148 sgk Ngữ Văn 7 tập một

Lập dàn ý cho bài phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê.

Mở bài: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và cảm nghĩ khái quát của bản thân về tác phẩm Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê.

Thân bài:

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 1

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 6

Câu 1. Đọc bài văn

Câu 2. Trả lời câu hỏi

a. Bài văn viết về bài ca dao Đêm qua ra đứng bờ ao :

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ

Buồn trông con nhện chăng tơ

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?

ДђГЄm Д‘ГЄm tЖ°б»џng dбєЈi NgГўn HГ

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn

Tào Khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.

b. Các yếu tố trong bài văn :

– Yếu tố tưởng tượng : một bóng người đội khăn, áo dài,…

– Liên tưởng và tưởng tượng : Có lúc tôi nghĩ đây là một người quen thật của tôi, có thể là họ hàng ruột thịt,…

– Hồi tưởng và tưởng tượng : tiếng gió khuya vu vu và chính bóng người,…

– Liên tưởng và suy ngẫm : Lại đến con sông Tào Khê này nữa! Hơn bốn mươi năm sau đấy, tôi đã được tới đứng ben bờ phù sa của nó mà trông trời mây sông nước và cả sao khuya,…

Luyện tập

Phát biểu cảm nghĩ :

a. Bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh :

Mở bài :

– Đôi nét về tác giả.

– Giới thiệu bài thơ.

Thân bài :

Cảm xúc và suy nghĩ do tác phẩm gợi lên :

+ Khung cảnh ngắm trăng.

+ Sự mơ hồ, giọng điệu buồn.

+ Cái ngẩng đầu, cái cúi đầu, phép đối thể hiện nỗi nhớ, nhớ “cố hương”.

→ Nhận ra tình yêu thiên nhiên và nỗi nhớ của tác giả.

Kết bài :

Bài thơ ngắn nhưng mang ý nghĩa sâu sắc. Nỗi nhớ quê nhà, sự cảm nhận tinh tế của tác giả về thiên nhiên thật khiến người ta suy nghĩ.

b. Bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê :

Giới thiệu nét chính về tác giả tác phẩm, hoàn cảnh ra đời bài thơ.

– Cảm nghĩ về sự ra đi và trở vè của nhà thơ. Cái không thay đổi và cái thay đổi : sự đối lập từ ngữ già – trẻ, đi xa – trở về. Hình ảnh sương pha mái đầu.

– Nỗi xót xa, cảnh ngộ bi kịch khi nhà thơ bị gọi là khách ngay chính trên quê hương của mình.

– Cảm thương cho hoàn cảnh của nhà thơ.

Cảm xúc chung với tác phẩm, cảm thông với những người xa quê, với nỗi nhớ xa quê.

c. Bài thơ Cảnh khuya :

Giới thiệu bài thơ, những nét tiêu biểu nhất.

– Thời điểm tiếp xúc với thiên nhiên của người viết.

– Phân tích cái hay của sự so sánh tinh tế và hình ảnh thơ mộng “tiếng suối”, “trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”.

– Cảm nhận được tâm hồn yêu thiên nhiên và tấm lòng vì dân vì nước của người thi sĩ – chiến sĩ.

Ấn tượng chung về tác phẩm và nhà thơ qua tác phẩm.

d. Bài thơ Rằm tháng giêng :

Hiểu biết của em về Bác Hồ và ngày rằm tháng giêng. Giới thiệu bài thơ.

– Không gian rộng lớn bao la của bài thơ.

– Khung cảnh trăng rằm đầu xuân, ánh trăng “lồng lộng”, sức xuân tràn ngập.

→ tình yêu thiên nhiên, tâm hồn thi sĩ.

– Hình ảnh Bác cùng các chiến sĩ “bàn bạc việc quân” trên thuyền → ung dụng, lạc quan yêu đời của người chiến sĩ cách mạng.

– Câu thơ cuối tràn ngập ánh trăng thơ mộng “trăng ngân đầy thuyền” → chiến thắng không còn xa, thể hiện niềm tin vô cùng với cách mạng.

Rằm tháng giêng là một bài thơ độc đáo. Vừa thể hiện tình yêu thiên nhiên của Bác và còn cho thấy tinh thần lạc quan giữa hoàn cảnh chiến tranh khắc nghiệt.

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 1

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 3

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 1

I. Tìm hiểu cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học

1. Đọc bài văn

Học sinh đọc văn bản trong SGK

2. Trả lời câu hỏi

a. Bài văn viết về bài ca dao:

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai

b. Tác phẩm phát biểu cảm nghĩ của mình về bài ca dao bằng cách tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, suy ngẫm về các hình ảnh, chi tiết của nó. Các yếu tố đó trong bài văn là:

– Yếu tố tưởng tượng: Hình ảnh bóng một người đội khăn, mặc áo dài, chắp tay sau lưng, quay mặt trông trời sao lấp lánh.

– Yếu tố liên tưởng: Nghĩ rằng hình ảnh trên là người quen của mình.

– Yếu tố hồi tưởng: Nhớ về hình ảnh tiếng gió khuya vi vu và bóng người với khăn.

– Suy ngẫm về các hình ảnh: hình ảnh ngưu lang chức nữ, con sông Tào Khê…

– Phát biểu cảm nghĩ về một tác phẩm văn học (bài thơ, bài văn) là trình bày những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, suy ngẫm của mình về nội dung và hình thức của tác phẩm đó.

– Bài cảm nghĩ về tác phẩm văn học cũng có ba phần:

II. Luyện tập

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về một trong các bài thơ: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng

Gợi ý

Bài 1: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

1. Mở bài

Giới thiệu đôi nét về tác giả Lý Bạch và bài thơ Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh

2. Thân bài

* Khung cảnh đêm trăng được nhà thơ khắc họa chân thực:

– Các từ “minh”, “quang”, “sương”: Ánh trăng trong đêm rất sáng và mở ảo, chiếu xuống mà nhìn là dưới mặt đất đất đang phủ một làn sương mờ ảo.

– Từ “sàng” (giường): Giúp người đọc nhận biết được vị trí ngắm trăng của nhà thơ. Ánh trăng xuyên qua khe cửa, chiếu xuống đầu giường chứng tỏ trăng đêm rất sáng và trời cũng đã khuya rồi. Nhưng lúc này, nhà thơ vẫn còn thức để ngắm trăng – chứng tỏ tâm trạng thao thức, băn khoăn của nhà thơ.

– Từ “nghi” và từ “sương” cùng xuất hiện bổ xung ý nghĩa cho nhau:

* Lý Bạch đã giúp cho người đọc cảm nhận thấm thía nỗi nhớ quê hương:

– Từ “vọng” được hiểu theo hai cách: Nhìn ra xa – hành động ngắm trăng của nhà thơ. Ngóng trông, nhìn về quê hương ở phía xa. Từ vọng đã diễn tả nỗi nhớ quê hương của nhà thơ.

– Hình ảnh đối lập: “cử đầu” – “đê đầu” (ngẩng đầu – cúi đầu) giúp cho câu thơ trở nên đăng đối.

– Tình cảm của nhân vật trữ tình được bộc lộ trực tiếp qua từ “tư” (nhớ): nỗi nhớ quê hương sâu đậm.

3. Kết bài

– Đánh giá về tác phẩm: một bài thơ hay, sâu sắc.

– Cảm nhận chung về bài thơ: yêu thích, hứng thú.

Bài 2: Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê

Giới thiệu đôi nét về nhà thơ Hạ Tri Chương và bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê.

* Suy nghĩ về sự ra đi và trở về của nhà thơ:

– Câu thơ mở đầu nói về một nghịch cảnh: Lúc rời khỏi quê hương vẫn còn trẻ, nhưng khi trở về thì đã có tuổi – đã già rồi. Qua đó người đọc thấy được khoảng thời gian xa quê của nhân vật trữ tình là rất dài.

– Sự đối lập: “Giọng quê không thay đổi” nhưng “mái tóc đã điểm bạc”. Đó chính là tình cảm thủy chung son sắc của nhà thơ dành cho quê hương.

* Nỗi xót xa, đồng cảm với nhà thơ khi ông trở thành người xa lạ trên chính mảnh đất của mình:

– Câu hỏi hồn nhiên của đứa trẻ: “Khách tòng hà xứ lai? (Khách ở nơi nao đến?).

– Từ “khách” đã chỉ ra một thực tế xót xa: Một người con của quê hương, sau bao nhiêu năm mới trở về đã trở thành con người xa lạ.

– Đánh giá tác phẩm: một bài thơ sâu sắc, ý nghĩa.

– Cảm nhận chung về bài thơ: yêu thích, hứng thú tìm hiểu…

Bài 3: Cảnh khuya

Giới thiệu đôi nét về nhà thơ Hồ Chí Minh và bài thơ Cảnh khuya.

* Cảm nhận được vẻ đẹp của thiên nhiên chiến khu Việt Bắc:

– Câu thơ 1: “Tiếng suối trong như tiếng hát xa”

* Thấu hiểu được nỗi suy tư, lo âu của nhà thơ:

– Câu 3: “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ” có hai cách hiểu

– Đánh giá về bài thơ: một trong những bài thơ hay nhất của chủ tịch Hồ Chí Minh.

– Cảm nhận chung về tác phẩm: yêu thích…

Bài 4: Rằm tháng giêng

Giới thiệu về tác giả Hồ Chí Minh và bài thơ Rằm tháng giêng

* Cảm nhận được hình ảnh đêm trăng rằm tràn ngập sắc xuân:

– Hình ảnh ánh trăng: “nguyệt chính viên” – trăng đúng lúc tròn nhất.

– Sức sống của mùa xuân: “xuân giang, xuân thủy, tiếp xuân thiên”

* Ngưỡng mộ tinh thần lạc quan, phong thái ung dung của người chiến sĩ cách mạng:

– Công việc: “đàm quân sự” – bàn việc quân nghĩa là bàn việc kháng chiến, bàn việc sinh tử của của dân tộc.

– Hình ảnh “trăng ngân đầy thuyền”: gợi sức lan tỏa của ánh trăng trong đêm rằm và qua đó thể hiện ý nguyện, mong muốn vươn tới thành công trong sự nghiệp cách mạng.

– Đánh giá tác phẩm: một bài thơ hay…

– Cảm nhận chung về bài thơ: yêu thích, khơi gợi sở thích tìm hiểu thơ ca Hồ Chí Minh…

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 2

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 3

Phần I: Tìm hiểu cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học:

1. Đọc văn bản:

2. Trả lời câu hỏi (trang 147 SGK Ngữ văn 7 tập 1):

a. Bài văn viết về bài ca dao : “Đêm qua ra đứng bờ ao”.

b. Các yếu tố:

Phần II: LUYỆN TẬP:

Trả lời câu hỏi (trang 148 SGK Ngữ văn 7 tập 1):

1. Cảm nghĩ về bài “Cảnh khuya”:

* Mở bài: giới thiệu bài thơ của Bác .

* Thân bài:

– Thời điểm tiếp xúc với thiên nhiên của Bác

– Hình ảnh so sánh, quấn quýt, sinh động

– Từ sự hài hòa giữa thiên nhiên và con người

– Từ tâm hồn cao cả của Bác: Bác vì dân, vì nước.

* Kết bài: Cảm xúc. Cảm nghĩ chung về tác phẩm.

2. Lập dàn ý “Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê”:

* Mở bài: giới thiệu ngắn gọn bài thơ và hoàn cảnh sáng tác.

– Nghĩ về lúc ra đi và lúc trở về của nhà thơ.

– Giữa nững cái đổi và cái không đổi của nhà thơ.

– Khi nhà thơ bị coi là người khách xa lạ

– Sự cảm thương đối với nhà thơ.

* Kết bài: Thông cảm với những người xa quê.

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 4

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 2

I. TÌM HIỂU CÁCH LÀM BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ TÁC PHẨM VĂN HỌC

1. Đọc bài văn Cảm nghĩ về một bài ca dao (tr. 146 SGK Ngữ văn 7 tập 1)

a. Bài văn viết về bài ca dao nào? Hãy đọc liền mạch bài ca dao đó.

b. Tác giả phát biểu cảm nghĩ của mình về bài ca dao bằng cách tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, suy ngẫm về các hình ảnh, chi tiết của nó. Hãy chỉ ra các yếu tố đó trong bài văn.

Trả lời:

a) Bài văn viết về bài ca dao: Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ

b) Tác giả phát biểu cảm nghĩ của mình về bài ca dao bằng cách tưởng tượng, liên tưởng, hồi tưởng, suy ngẫm về các hình ảnh, chi tiết của nó:

– Những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng do hai câu đầu gợi nên: “Đêm qua… sao mờ”.

– Những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng do hai câu sau gợi nên: “Buồn trông… mối ai”.

– Những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng do hai câu kế tiếp gợi nên: “Đêm đêm.., năm tròn”.

– Những cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng do hai câu cuối gợi nên: “Đá mòn… trơ trơ”.

Tác giả đã phát biểu cảm nghĩ của mình bằng cách tưởng tượng một con người cụ thể đội khăn, mặc áo dài. Đó là một người quen, ở phương trời xa đang hướng về cố hương. Tác giả liên tưởng và tưởng tượng ra cái mạng nhện và cảnh con nhện nghển trông, vờn đón, ngạc nhiên, thất vọng. Tác giả cũng lại hình dung đến dòng sông Ngân Hà (trong điển tích Ngưu Lang – Chức Nữ) – nơi có người quen và thân thương đang ngẩng lên ngắm nhìn và trông đợi. Từ con sông sao trên trời tới con sông Tào Khê, nhỏ hẹp nhưng cũng xiết lòng người, từ đó mà tác giả liên hệ đến lòng thuỷ chung không bao giờ vơi cạn.

II. PHẦN LUYỆN TẬP

Câu 1. Phát biểu cảm nghĩ về một trong các bài thơ: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, Cảnh khuya, Rằm tháng giêng

Gợi ý bài Cảnh khuya

a. Mở bài: Giới thiệu bài thơ của Bác và hoàn cảnh tiếp xúc của người viết.

b. Thân bài: Cảm xúc, suy nghĩ do tác phẩm gợi lên:

– Hình ảnh so sánh mang đầy chất thơ (tiếng suối như tiếng hát).

– Vẻ đẹp trữ tình của trăng

– Tấm lòng vì nước vì dân của người thi sĩ – người chiến sĩ cách mạng.

– Cảm nghĩ về đặc sắc nghệ thuật.

c. Kết bài: Phát biểu ấn tượng chung về tác phẩm.

Câu 2. Lập dàn ý phát biểu cảm tưởng về bài thơ Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê.

a. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về Hạ Tri Chương và bài thơ.

b. Thân bài: Cảm xúc, suy nghĩ về các hình ảnh và cảm xúc của tác phẩm.

– Hoàn cảnh viết bài thơ có nét gì độc đáo, đặc biệt.

– Sự đối lập các trạng thái trẻ – già, đi xa – trở về và sự thay đổi của tác giả (tóc mai đã rụng).

– Điểm không thay đổi sau bao năm xa cách: giọng quê (cũng chính là cái tình đối với quê hương).- Cuộc gặp gỡ với lũ trẻ con trong làng.

– Sự xót xa của tác giả khi bị lũ trẻ coi là người khách lạ.

c. Kết bài: Cảm xúc chung về tác phẩm. Tình cảm của người viết đối với quê hương.

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 4

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 5

Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” số 4

Ví dụ: Đọc bài băn:

CẢM NGHĨ VỀ MỘT BÀI CA DAO

Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ…

Có lúc tôi đã nghĩ đây là một người quen thật của tôi, có thể là họ hàng ruột thịt kiếm ăn ở một phương xa đang hướng về cố hương:

Buồn trông con nhện giăng tơ

Tôi chỉ lơ mơ nghe thầy giáo giảng các nghĩa, các ý và so sánh hình tượng. Tất cả tâm trí và mắt nhìn của tôi càng như dính chặt vào mạng tơ rung rung trước gió với một con nhện lơ lửng giữa khoảng không đang giơ giơ càng, vừa ra vẻ nghển trông, vừa ra vẻ vờn đón, ngạc nhiên và thất vọng. Tiếng gió khuya vu vu. Và chính bóng người chỉ huy đầu đội khăn, tay chắp sau lưng mà không thấy mặt kia, đang nấc lên mà gọi trời, gọi sao, gọi nhện

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn…

Lại con sông Tào Khê này nữa! Hơn bôn mươi năm sau đấy, tôi đã được tới đứng trên bờ phù sa của nó mà trông trời mây sông nước rồi cả sao khuya. Sông Tào Khê vắt qua huyện Quế Võ, tỉnh Hà Bắc, thông ra sông Cầu, nhỏ hẹp thôi, nhưng cũng chảy xiết lòng người khiến những ai kia đã phải nghẹn ngào:

Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn mà nói với sông:

– Ôi Tào Khê! Nước Tào Khê lắm đá mòn đấy! Nhưng dòng nước Tào Khê không bao giờ cạn chính là lòng chung thủy của ta!

Vì nhớ mà buồn, một bài không phải học kĩ mà cũng thuộc lòng ngay, cả nhiều bạn tôi xưa cũng thấy như thế.

(Nguyên Hồng, Một tuổi thơ văn)

a. Bài văn viết về bài ca dao nào? Hãy đọc liền mạch bài ca dao đó

a. Bài văn viết về bài ca dao: Vì nhớ mà buồn

Đọc liền mạch bài ca:

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ.

Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai ?

Chuôi sao Tinh Đẩu đã ba năm tròn.

b. Tưởng tượng: Bóng một người đội khăn ,mặc áo dài, chắp tay sau lưng,quay mặt trông trời lấp lánh sao ,bên cái cầu rửa ở bờ ao tối mờ mờ

Câu 1: Phát biểu cảm nghĩ về một trong các bài thơ: …

Phát biểu cảm nghĩ về một trong các bài thơ: Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh, Ngẫu nhiên viết nhân buổi mới về quê, Cảnh khuya

Cảm nghĩ về bài thơ cảnh khuya

c. Kết bài.

Khẳng định lại tình cảm của người viết: Đây là bài thơ hay thể hiện tâm hồn tinh tế nhạy cảm, tinh thần yêu nước sâu nặng của Bác.

Bài mẫu:

Hồ Chí Minh không chỉ được biết đến với tư cách là một nhà chính trị tài ba, một vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà Bác còn được biết đến với tư cách là một người nghệ sĩ với tâm hồn phóng khoáng, yêu đời và tự do. Bài thơ Cảnh khuya ra đời năm 1947, khi Bác đang sống và làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ. Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt với ngôn ngữ giản dị, trong sáng nhưng vẫn hiện lên tâm hồn, tình yêu thiên nhiên và sự trăn trở, suy tư của Bác với non sông, đất nước:

Tiếng suối trong như tiếng hát xa

Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa

Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

ChЖ°a ngủ vГ¬ lo nб»—i nЖ°б»›c nhГ

Cảnh hiện lên là buổi đêm vô cùng tĩnh lặng của núi rừng Việt Bắc. Tôi hình dung về khoảng không rộng lớn của thiên nhiên, khi trăng lên lên cao vút, ánh sáng chiếu xuyên qua từng kẽ lá, tạo nên những vệt sáng lốm đốm dưới mặt đất như những đóa hoa. Tiếng suối chảy róc rách chảy trong đêm lại đặc biệt trong trẻo, tinh khôi như tiếng hát. Âm thanh ấy lại gợi cho tôi về tiếng suối trong những vần thơ của Nguyễn Trãi trước đây:

Côn Sơn suối chảy rì rầm

Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

Cả hai câu thơ đều là âm thanh tiếng suối nhưng tiếng suối trong mỗi bài hiện lên với vẻ đẹp khác nhau. Nếu tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi là tiếng suối ở Côn Sơn, rì rầm như tiếng đàn cầm du dương, thanh thoát thì tiếng suối trong thơ Bác là tiếng suối ở Việt Bắc trong trẻo, cao vút như tiếng hát của người ca sĩ. Dù thế nào thì những âm thanh tưởng như vô thức ấy cũng hiện lên trong những câu chữ của cả hai người nghệ sĩ với những cung bậc, tình cảm, cảm xúc tuyệt vời.

Người ta cứ nghĩ, thiên nhiên là cái mà Hồ Chí Minh hướng tới, nhưng không, con người suy tư về vận mệnh của đất nước mới chính là tâm điểm của bức tranh:

Nước nhà vẫn đang bị giày xéo dưới gót giày của kẻ xâm lược, nhân dân vẫn đang lầm than, è cổ chịu sự áp bức thì người lãnh tụ làm sao có thể ngon giấc được? Thiên nhiên có đẹp đến mấy, thơ mộng đến mấy, âm thanh có trong trẻo, có du dương đến mấy mà con người phải sống trong cảnh nô lệ, tù đày thì cũng không còn ý nghĩa gì cả. Hình bóng của người chiến sĩ cách mạng bỗng trở nên kì vĩ, lớn lao hơn bao giờ hết. Không phải vì bóng dáng của Người trong đêm tối tĩnh mịch được ánh trăng cắt hình trên nền đất mà chính vì suy nghĩ, trăn trở lớn lao của Người với vận mệnh của non sông, đất nước.

Bài thơ khép lại bằng hình ảnh của người chiến sĩ cách mạng với suy tư về cuộc chiến nhưng lại mở ra trong lòng người đọc một tấm lòng của con người hết lòng vì dân, vì nước, đấu tranh vì quyền tự do, dân chủ cho con người.

Câu 2: Lập dàn ý cho bài phát biểu cảm tưởng về bài thơ …

c. Kết bài:

Đăng bởi: Đỗ Văn Lương

Từ khoá: 6 Bài soạn “Cách làm bài văn biểu cảm về tác phẩm văn học” lớp 7 hay nhất

Vịnh Hạ Long, Cát Bà – Tuyệt Tác Thiên Nhiên Nhìn Từ Bầu Trời

Được xem là 2 hòn ngọc quý giá trên vùng biển phía bắc Việt Nam, đảo Cát Bà (Hải Phòng), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) sở hữu khung cảnh thiên nhiên kỳ vĩ, tráng lệ.

Vịnh Hạ Long, Cát Bà – tuyệt tác thiên nhiên nhìn từ bầu trời

Cách trung tâm Hải Phòng khoảng 30 km và thành phố Hạ Long (Quảng Ninh) khoảng 25 km, đảo Cát Bà sẽ mang đến cho du khách nhiều kỷ niệm khó quên. Được mệnh danh là Hòn Ngọc của vịnh Bắc Bộ, Cát Bà, quần đảo thuộc địa phận thành phố Hải Phòng, những năm gần đây đang ngày càng khẳng định vị trí của mình trong ngành du lịch. Với hàng trăm hòn đảo nguyên sơ, nơi đây nổi bật bởi vẻ hùng vĩ, ngoạn mục mà thiên nhiên ban tặng. Ảnh: Trần Quý.

Cát Bà ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước bởi khí hậu mát mẻ, những bãi tắm đẹp, các dịch vụ tiện nghi và nhiều hoạt động, trò chơi hấp dẫn. Đối với những người yêu biển, mê rừng, đây sẽ là điểm du lịch sinh thái đầy lý thú. Thời tiết dễ chịu, không khí trong lành quanh năm nên khách du lịch gần như có thể đến đây vào bất kỳ thời điểm nào. Mùa hè là thời điểm đảo bước vào mùa du lịch cao điểm nhất. Mọi người thường đến đây để tránh cái nóng oi bức và tận hưởng kỳ nghỉ hè. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Vào những ngày cuối tuần, Cát Bà đón lượng khách khổng lồ từ các khu vực lân cận. Được cấu tạo bởi những dãy núi đá vôi liên tiếp, từ trên cao nhìn xuống, Cát Bà hiện lên vẻ kỳ vĩ, mê đắm lòng người bởi khung cảnh tràn ngập sắc xanh của núi và biển. Hàng trăm dáng núi hình dáng kỳ dị nối liền, đan xen những hang động đầy huyền bí. Tất cả dưới lăng kính máy ảnh đã tạo nên một Cát Bà tuyệt đẹp. Ảnh: Trần Quý.

Vẻ đẹp ấy còn được tạo nên nhờ các vịnh nằm sâu trong lòng đảo, trải dài bên những dải cát nhỏ trắng mịn. Độ mặn cao đã làm cho sắc nước trở nên trong vắt. Tất cả đều được thu vào ống kính một cách trọn vẹn. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Nếu muốn tận mắt ngắm toàn cảnh Cát Bà, du khách hãy lên đỉnh Pháo đài Thần công cao 177 m. Không chỉ là di tích lịch sử đã ghi dấu những chiến công oanh liệt của người dân trên đảo, nơi đây còn sở hữu vị trí đắc địa với 3 mặt hướng biển. Từ trên cao nhìn xuống, vịnh Cái Bèo hiện lên với làn nước màu xanh lục, núi đá nhấp nhô hòa lẫn với nền trời xanh thẳm. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Làng chài là nơi sinh sống của khoảng 300 hộ dân với hơn 600 nhân khẩu. Nét thơ mộng của thiên nhiên hoà cùng nhộn nhịp của cuộc sống lao động ở làng chài tạo nên một vẻ đẹp xao xuyến lòng người. Những nhà thuyền đầy sắc màu, kết liền với nhau thành nhóm, nổi bật trên nền xanh của mặt nước tĩnh lặng. Thuyền bè nối đuôi nhau hướng ra biển lớn. Dưới ống kính flycam, toàn cảnh làng chài hiện lên tạo thành bức tranh rực rỡ, hài hòa của thiên nhiên và con người. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Rời Hà Nội khoảng 170 km, bạn sẽ được hòa mình vào không gian rộng lớn với khung cảnh thiên nhiên hữu tình của thành phố Hạ Long, thiên đường nghỉ dưỡng lý tưởng ở Quảng Ninh. Theo thống kê từ công ty vận tải hành khách Hoppa, vịnh Hạ Long thuộc top 5 điểm đến hấp dẫn nhất ở châu Á. CNN cũng đã đưa ra 25 địa điểm du lịch đẹp nhất hành tinh. Trong đó, vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) vinh dự nằm trong danh sách này. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Trải rộng trên diện tích khoảng 1.553 km2, vịnh Hạ Long là nơi sở hữu 1.969 hòn đảo lớn nhỏ. Tới đây, du khách có thể chiêm ngưỡng phong cảnh tuyệt đẹp và trải nghiệm nhiều dịch vụ sang chảnh, đẳng cấp. Hệ thống nghìn đảo đá nhấp nhô, dựng đứng, nhiều hang động tuyệt đẹp, những con thuyền buồm trên biển cả rộng lớn với làn nước trong xanh… tất cả đã tạo nên bức tranh thiên nhiên sống động, thu hút và ấn tượng cho vùng đất vào top 7 Kỳ quan Thiên nhiên Thế giới. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Ngoài hành trình khám phá các hang động, thưởng thức ẩm thực với hàng loạt món hải sản tươi ngon, bạn còn có thể tham gia nhiều trải nghiệm khác nhau như tắm biển, lặn, du thuyền, chèo kayak… Bình minh trên biển là một trong những khoảnh khắc đẹp du khách khó lòng bỏ qua khi đặt chân tới vịnh. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

Nhìn từ xa, vịnh Hạ Long dưới bàn tay của tạo hóa đẹp như bức tranh thủy mặc hùng vĩ, rộng lớn và yên bình. Trong bức tranh sơn thủy hữu tình đấy, hàng trăm, hàng nghìn con thuyền thong dong lướt sóng giữa biển xanh mênh mông, thấp thoáng sau những ngọn núi đá nối nhau, chạy dài như bức tường thành vững chãi bảo vệ đất liền. Ảnh: Nguyễn Tuấn.

1. President Cruises 

3. Khách sạn Wyndham Legend Hạ Long

Đăng bởi: Nguyễn Văn Tặng

Từ khoá: Vịnh Hạ Long, Cát Bà – tuyệt tác thiên nhiên nhìn từ bầu trời

Cảm Nhận Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang ❤️️15 Bài Biểu Cảm Hay

Cảm Nhận Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang ❤️️ 15 Bài Biểu Cảm Hay ✅ Tuyển Tập Văn Đặc Sắc Viết Về Một Thi Phẩm Đường Luật Bất Hủ Của Thời Trung Đại.

Dàn ý cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang sẽ là nội dung định hướng giúp các em học sinh định hướng bố cục và luận điểm cho bài viết. Tham khảo chi tiết dàn ý cảm nghĩ về bài thơ Qua đèo Ngang như sau:

I. Mở bài: Giới thiệu đôi nét về tác giả Bà Huyện Thanh Quan và tác phẩm Qua đèo Ngang.

Bà Huyện Thanh Quan tên thật là Nguyễn Thị Hinh, quê ở Nghi Tàm, Thăng Long.

Bài thơ Qua đèo Ngang tả cảnh đèo Ngang lúc ngày tàn, qua đó nhà thơ cũng thể hiện những tâm tư trong lòng mình.

Ví dụ: Bà Huyện Thanh Quan là một người phụ nữ tài năng và xinh đẹp, bà có một tác phẩm đặc sắc mà chúng ta đều biết tới đó là Qua đèo Ngang. Tác phẩm thể hiện cảnh đèo Ngang tuy đẹp nhưng lại rất heo hút, đồng thời thể hiện tâm trạng nhớ thương quê nhà của nhà thơ.

II. Thân bài: Cảm nhận chi tiết về bài thơ “Qua đèo Ngang”

a. Hai câu đề

Thời điểm nữ sĩ đặt chân tới đèo Ngang là lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống.

Cảnh vật rất dễ gợi buồn trong lòng người lữ thứ.

Miêu tả khung cảnh thiên nhiên hoang sơ, tràn đầy sức sống của đèo Ngang qua điệp từ chen và hai vế đối: cỏ cây chen đá lá chen hoa.

Cảnh đẹp nhưng vẫn nhuốm màu buồn tẻ, quạnh hiu của một miền sơn cước.

b. Hai câu thực

Cuộc sống và con người nơi đèo Ngang, cảnh vật có sự đối nhau.

Sử dụng từ láy lom khom, lác đác làm tăng thêm sự hoang vắng, nghèo nàn của khung cảnh.

c. Hai câu luận

Tiếng kêu quốc quốc, gia gia càng làm tăng thêm nỗi nhớ nhà.

Sử dụng phép đối và đảo ngữ, vừa tạo hình, vừa tạo nhạc.

d. Hai câu kết

Tâm trạng ngơ ngác, bồi hồi của nữ sĩ khi dừng chân đứng lại để nhìn ngắm cảnh đèo.

Nhận ra cái cô đơn, lẻ loi của mình giữa không gian bao la.

Nét tương phản càng tô đậm sự cô đơn, buồn bã trong lòng người.

Nỗi buồn không thể san sẻ nên kết tụ lại trong lòng thành mảnh tình riêng, chỉ có ta với ta mà thôi.

Âm hưởng, nhịp điệu câu thơ giống như một tiếng thở dài ngậm ngùi, nuối tiếc.

III. Kết bài: Nêu cảm nhận chung đúc kết lại của bản thân về bài thơ Qua đèo Ngang.

Ví dụ: Qua bài thơ Qua đèo Ngang ta có thể thấy được cảnh núi non hùng vĩ và hoang sơ của đèo Ngang, một cảnh đẹp của đất nước. đồng thời ta còn thấy được tình yêu quê và nỗi nhớ quê của người phụ nữ xa quê rất cô đơn và rất buồn bã.

Giới thiệu đến bạn 🌟 Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Qua Đèo Ngang 🌟 15 Bài Văn Hay Nhất

Đón đọc đoạn văn cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang sẽ giúp các em học sinh tham khảo những ý văn hay.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan không chỉ dựng lên một bức tranh thiên nhiên đầy sống động về địa danh Đèo Ngang của nước ta mà qua đó còn bộc lộ bức tranh tâm cảnh đầy khắc khoải, da diết của người lữ khách xa quê. Khung cảnh Đèo Ngang hiện lên hùng vĩ, rộng lớn nhưng hoang sơ, tịch mịch. Đồng thời trước cảnh tượng ấy, người thi sĩ là kẻ lữ khách xa quê đã bộc lộ niềm nhớ thương đất nước, quê nhà và những nỗi buồn sâu kín.

Trong chuyến đi vào Phú Xuân – Huế để nhận chức quan, Bà Huyện Thanh Quan đã dừng chân nghỉ tại Đèo Ngang, đây cũng là lần đầu tiên tác giả đặt chân tới Đèo Ngang, tức cảnh sinh tình bà đã sáng tác nên bài thơ.

Thời điểm nhà thơ dừng chân tại Đèo Ngang vào lúc chiều tà bóng xế, khi cuối ngày cảnh vật đang chuẩn bị chìm vào bóng đêm, thời điểm này gợi lên trong lòng người những nỗi buồn man mác, và đặc biệt trong hoàn cảnh xa quê, xa nhà một mình nơi đất khách quê người như tác giả tâm hồn lại càng nhạy cảm hơn với ngoại cảnh.

Khung cảnh nơi Đèo Ngang là rừng núi chỉ toàn cỏ cây hoa lá, cặp tiểu đối “cỏ cây chen đá” , “lá chen hoa” đã gợi tả khung cảnh hoang sơ, hiu quạnh, hoang vắng. Bên cạnh đó câu thơ cũng gợi nên sức sống mãnh liệt, um tùm, rậm rạp của cây cỏ. Trong bức tranh thiên nhiên ấy thấp thoáng bóng dáng cuộc sống con người:

Dưới núi vài chú tiều đang lom khom kiếm củi, bên sông chỉ lác đác mấy chợ, những câu thơ gợi ra bóng dáng của con người cùng những hoạt động sống thường nhật nhưng dường như sự xuất hiện chớp nhoáng, nhạt nhoà đó chỉ càng tô đậm thêm sự hoang vắng, tịch mịch nơi Đèo Ngang. Trong hoàn cảnh xa nhà, xa quê lại bắt gặp khung cảnh thiên nhiên và con người nơi Đèo Ngang, nữ thi sĩ đã bộc lộ tâm trạng và trải lòng mình với những nỗi nhớ thương, nỗi niềm tâm sự thầm kín:

Nỗi nhớ nước thương nhà được nhà thơ gắn với những tiếng chim “con cuốc cuốc”, “cái gia gia”. Tiếng cuốc kêu nghe sao khắc khoải, vang vọng giữa rừng núi hoang vu, tiếng chim gia gia lại thêm phần da diết, réo rắt vào trong lòng người những nỗi nhớ thương. Nghệ thuật chơi chữ kết hợp với chuyển đổi cảm giác đã góp phần bộc lộ rõ tình yêu quê hương đất nước và nỗi nhớ thương quê nhà của Bà Huyện Thanh Quan.

Hai câu kết bài thơ đã gói trọn lại bức tranh tứ bình nơi Đèo Ngang, đồng thời tác giả đã gửi gắm vào đó nỗi niềm tâm sự thầm kín. Dừng chân tại nơi đất trời non nước hữu tình ấy, không gian bao la choáng ngợp lấy tâm hồn người thi sĩ, để rồi tác giả càng thấm thía hơn sự cô đơn, lạc lõng giữa chốn đất khách quê người. Chỉ có “ta với ta” những nỗi niềm tâm sự không thể giãi bày, chia sẻ với ai, “mảnh tình riêng” ấy đành cất lại nơi sâu thẳm tâm hồn, để rồi thay vào đó là tiếng thở dài đầy tiếc nuối, thở than.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà Huyện Thanh Quan đã mang đến cho người đọc những cảm xúc khác nhau, đầu tiên là niềm tự hào, say mê trong cảnh sắc thiên nhiên đất trời Đèo Ngang, tiếp đến là khơi dậy nỗi nhớ quê hương, tình yêu đất nước và cuối cùng là sự cảm thông chia sẻ với nỗi lòng của nhà thơ.

Mời bạn khám phá thêm 💕 Thơ Bà Huyện Thanh Quan 💕 Tuyển Tập Trọn Bộ Đầy Đủ

Viết đoạn văn biểu cảm về Qua đèo Ngang ngắn hay sẽ giúp các em học sinh luyện tập cách diễn đạt ý văn mạch lạc và giàu hình ảnh.

Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ thi sĩ nổi tiếng của nền thơ ca trung đại Việt Nam. Và bài thơ “Qua Đèo Ngang” là một tác phẩm nổi tiếng của bà. Bài thơ đã diễn tả được tình cảnh cô đơn của tác giả cũng như nỗi nhớ quê hương của nhà thơ khi đứng trước không gian nơi đèo Ngang rộng lớn.

Bài thơ được mở đầu với hình ảnh thiên nhiên nơi đèo Ngang – điểm nhìn từ trên cao nhìn xuống phù hợp để khắc họa thiên nhiên một cách bao quát. Vào thời điểm “bóng chiều đã xế tà” cũng là lúc nhà thơ bước chân đến đèo Ngang. Thiên nhiên ở đây có đá núi, cây rừng lại thấp thoáng có sự sống của con người nhưng vẫn thật hoang vu, vắng vẻ:

Cảnh vật như đang nhuốm màu tâm trạng của nhà thơ. Nguyễn Du cũng từng khẳng định:

Thiên nhiên dù tràn đầy sức sống. Có cả “cỏ” với “cây” điểm thêm “lá” và “hoa” cùng “chen” nhau mà vươn lên, tràn đầy sức sống. Nhưng cảnh vật thì vẫn cứ bao la khiến cho con người chỉ càng cảm thấy thêm đơn độc. Ngay cả khi con người xuất hiện thì cũng chỉ rất nhỏ bé giữa thiên nhiên. Con người trở thành “một chấm buồm nhỏ xíu” trong vũ trụ rộng lớn khôn cùng.

Để rồi nhà thơ đã phải bộc lộ nỗi nhớ nhung dành cho quê hương:

Nhà thơ đã lắng nghe âm thanh của cảnh Đèo Ngang. Cụm từ “con cuốc cuốc”, “cái gia gia” được sử dụng không chỉ là hình ảnh tả thực về loài chim cuốc, chim đa đa. Cách sử dụng biện pháp chơi chữ độc đáo nhằm diễn tả sự tiếc nuối về quá khứ, triều đại nhà Lê thời kỳ vàng son, hưng thịnh nay không còn nữa cũng như nỗi nhớ quê hương tha thiết của chính nhà thơ.

Hai câu thơ cuối cùng kết lại toàn bộ bài thơ với mạch cảm xúc được đẩy lên đến tột cùng. Nhà thơ một mình đứng ở nơi đèo Ngang, xung quanh chỉ có “trời, non, nước” – chỉ có thiên nhiên hoang vu, lạnh lẽo. Đó là sự cô đơn đến của người lữ khách trên hành trình đơn độc. Tâm trạng của nhà thơ cũng chẳng thể chia sẻ cùng với ai. “Một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ, “ta với ta” – đều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình đối diện với chính mình, cô đơn và lẻ loi.

Như vậy, khi đọc bài thơ “Qua Đèo Ngang”, người đọc dường như cảm nhận được nỗi cô đơn của thi sĩ. Cũng càng thêm đồng cảm sâu sắc với nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan.

Chia sẻ 🌹 Cảm Nhận Về Bài Thơ Tự Tình 2 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Bà Huyện Thanh Quan là một trong những nữ sĩ tài năng bậc nhất trong nền văn học trung đại Việt Nam. Giữa hằng hà sa số những bậc quân tử hảo hán băn khoăn, trăn trở về việc nước, thơ của bà mang một hồn thơ man mác buồn thương. “Qua đèo Ngang” là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp văn học của nữ thi sĩ, viết về khung cảnh thiên nhiên sơn thủy hữu tình cùng tâm trạng nuối tiếc, cô đơn khi một mình đơn độc giữa đất trời rộng lớn.

Lựa chọn thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật thịnh hành thời bấy giờ cùng hệ thống niêm luật, gieo vần điệu quy củ, nghiêm tắc, bài thơ vừa nói lên tiếng lòng của người lữ khách khi bước tới vãn cảnh đèo Ngang. Bài thơ đã để lại tiếng vang lớn, đưa tên tuổi của bà Huyện Thanh Quan lên một tầm cao mới trong làng văn học đương thời

Mở đầu bài thơ, tác giả bao quát khung cảnh thiên nhiên bao la, rộng lớn:

Lựa chọn khung cảnh kì vĩ, lấy điểm nhìn từ trên cao, thời gian là khi “bóng xế tà”, buổi chiều buồn thường gợi cho con người cảm giác cô độc, buồn thương. Một buổi chiều hoàng hôn hiu hắt, bước chân lữ khách “bước tới đèo Ngang”, một sự tình cờ tự nhiên, hòa hợp giữa người và cảnh.

Đứng giữa sự rộng lớn của đất trời, một mình đứng trên đèo cao nhìn xuống, xung quanh chỉ có cỏ cây. Động từ “chen” cùng nghệ thuật liệt kê “cỏ”, “cây”, “đá”, “hoa” càng nhấn mạnh sự rậm rạp, hoang sơ của thiên nhiên. Người đọc hình dung ra bức tranh hoàng hôn bóng xế, một ngày sắp tàn lụi, trên đỉnh đèo thoai thoải, dưới chân là đá, là hoa, là cỏ cây, một bóng hình lẻ loi, đơn độc trầm ngâm suy tư, nghĩ ngợi. Cái nhỏ bé của con người khiến người ta cảm thấy rợn ngợp trước sự vĩ đại của thiên nhiên.

Nếu hai câu thơ đầu tác giả khắc họa khung cảnh sống động, hài hòa thì ở hai câu thơ sau, hình ảnh con người xuất hiện nhưng lại mang nét thưa thớt, ít ỏi:

Sự xuất hiện của con người càng làm tăng thêm cái hiu hắt, cô quạnh của khung cảnh. Biện pháp đảo ngữ “tiều vài chú”, “chợ mấy nhà” kết hợp cùng các tính từ ‘lom khom”, “lác đác”, so với sự hùng vị, choáng ngợp của đèo Ngang quả là sự đối lập rõ rệt. Cũng có bóng người đấy, nhưng chỉ là những hình bóng lưa thưa, heo hắt bên kia bờ sông. Sự u tịch của buổi chiều bao trùm lên vạn vật, không gian nhuốm màu buồn thương da diết đến lặng người.

Mượn cảnh tả tình, bà Huyện Thanh Quan mượn tiếng kêu của những loài chim để khéo léo lồng ghép nỗi u hoài, nhớ thương về giang sơn đất nước:

Nghệ thuật chơi chữ, con chim cuốc được biến thể thành từ đồng âm “quốc quốc”, chim đa đa trở thành “gia gia”. Quốc là đất nước, gia là gia đình, đứng trước cảnh tượng tiêu điều trong chiều hoàng hôn đang dần phai, nữ thi sĩ lại canh cánh nỗi nhớ thương đau lòng với tổ quốc, với quê hương.

Đứng trên chính mảnh đất quê cha đất tổ của mình nhưng lại một lòng hướng về đất nước, phải chăng, cái mà nhà thơ nhung nhớ là những tháng ngày trù phú, sầm uất, là khung cảnh người đi lại tấp nập, huyên náo. Nỗi buồn gieo cả vào lòng người, mà “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, nỗi buồn héo hon chứa đựng cả con người, cả cảnh vật nơi đây.

Trước không gian bao la, bát ngát của “đệ nhất hùng quan”, lòng người thi sĩ dường như có sự vương vấn, lưu luyến không muốn rời:

Bước chân lữ khách tìm đến đèo Ngang, cảnh đèo Ngang, sắc đèo Ngang khiến lòng người thi sĩ say đắm, chẳng muốn bước đi. Trời, non, nước, cảnh tượng thiên nhiên hài hòa, tráng lệ, để tơ lòng của tâm hồn nhạy cảm chỉ còn là “một mảnh tình riêng”. Ba tiếng “ta với ta” vang lên đầy quạnh hiu, một nỗi cô đơn thầm kín, cô đơn giữa cảnh tượng quá đỗi ngút ngàn, cô đơn giữa chính quê hương, đất nước. Mảnh tình riêng đây chính là nỗi u sầu, hoài niệm, nỗi lòng yêu kính của một nhân tài, một người con hiến mình cho tổ quốc.

Viết bằng thể thơ Đường luật với những niêm luật chặt chẽ, bài bản, nhưng “Qua đèo ngang” lại không gò bó, ép buộc. Qua bài thơ, người đọc cảm nhận được sự công phu của tác giả khi lựa chọn những câu từ tả cảnh, tả tình đắt giá. Cảnh sắc tuyệt đẹp của đèo Ngang, nỗi buồn day dứt của một người có học thức và tấm chân tình, nghĩ tới nước nhà, giang sơn đã được bà Huyện Thanh Quan gói gọn trong vỏn vẹn tám câu thơ để đời.

Hướng Dẫn Cách Nhận 🌼 Thẻ Cào Miễn Phí 🌼 Nhận Thẻ Cào Free Mới Nhất

Bà Huyện Thanh Quan là một trong số những nữ sĩ tài danh xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam, tuy nhiên những sáng tác của bà còn tồn tại đến ngày nay không còn nhiều. Có thể nói, bài thơ Qua đèo Ngang là một trong số những sáng tác xuất sắc nhất của bà. Ra đời khi Bà Huyện Thanh Quan lần đầu tiên xa nhà, xa quê hương, vào kinh đô Huế nhận chức “cung trung giáo tập”, bài thơ mang những nét đặc sắc cả về nội dung và nghệ thuật.

Trước hết, bài thơ đã vẽ nên một cảnh tượng, một bức tranh Đèo Ngang vừa thoáng đãng, vừa heo hút, hoang sơ nhưng vẫn thấp thoáng ở đó bóng hình, sự sống của con người. Mở đầu bài thơ cảnh tượng Đèo Ngang thoáng hiện lên nỗi buồn hiu quạnh.

Hai câu thơ mở đầu bài thơ đã gợi lên thời gian, không gian nghệ thuật cho bài thơ, để rồi, từ trong khoảng không gian, thời gian ấy cảnh tượng đèo Ngang cứ thế dần hiện ra. Thời gian trong bài thơ được gợi lên thông qua cụm từ “bóng xế tà”. Có thể thấy đó là một buổi chiều chạng vạng – khoảng thời gian thường gợi lên trong mỗi người nỗi buồn man mác với nỗi trống vắng, cô đơn.

Không chỉ là thời gian chiều tà, bài thơ còn gợi lên một không gian cảnh vật nơi đèo Ngang rộng lớn, mênh mông – sự rộng lớn của không gian càng làm tăng thêm nỗi buồn và sự trống vắng. Và để rồi, trong khoảng không gian rộng lớn ấy, từng cảnh vật cứ thế chen chúc nhau mọc lên.

Sự chật chội, chen chúc ấy của cảnh vật được thể hiện rõ nét qua động từ “chen”. Động từ này không chỉ gợi lên sự chen chúc, hoang sơ, không có trật tự của cảnh vật mà qua đó nó còn thể sức sống của vạn vật trước sự khắc nghiệt của khí hậu và sự mênh mông của không gian. Thêm vào đó, bức tranh thiên nhiên nơi đèo Ngang còn hiện lên thấp thoáng sự sống của con người.

Hai từ láy “lom khom”, “lác đác” để diễn tả dáng hình của chú tiều và những ngôi nhà cùng nghệ thuật đảo ngữ, chúng được đặt lên ở đầu câu đã nhấn mạnh sự thưa thớt, ít ỏi. Thêm vào đó, việc sử dụng các từ ngữ “vài”, “mấy” đã làm tăng thêm sự nhỏ bé của bóng hình con người và sự thưa thớt, hoang vắng của cảnh vật. Để rồi từ những hình ảnh và từ ngữ ấy, tác giả đã gợi nên một bức tranh cảnh vật thưa thớt, hoang vắng dẫu đã có ánh lên sự sống của con người.

Như vậy, bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan đã vẽ nên một bức tranh cảnh vật đèo Ngang lúc chiều tà rộng lớn, mênh mông, thấp thoáng hiện lên bóng hình của con người, của sự sống nhưng vẫn còn hoang vắng, đìu hiu, gợi lên cảm giác man mác buồn và sự vắng lặng, cô đơn.

Không dừng lại ở đó, bài thơ Qua đèo Ngang còn thể hiện tâm trạng và nỗi lòng của nhà thơ.

Hai câu thơ đã cho thấy nghệ thuật sử dụng từ ngữ điêu luyện và tài tình của nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan – chữ quốc là nước là từ đồng âm với từ “cuốc” – chỉ một loài chim và “gia gia” là từ có âm gần giống với loài chim đa đa. Với nghệ thuật chơi chữ tài năng, hai câu thơ đã nói lên tâm trạng của bà vào thời điểm bước tới đèo Ngang.

Âm thanh văng vẳng của hai loài chim ấy phải chăng cũng chính là nỗi lòng của bà ngay lúc này – nỗi “nhớ nước”, “thương nhà”. Đồng thời, nỗi lòng ấy càng được tỏ rõ và nhấn mạnh khi tác giả khéo léo sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đưa hai từ “nhớ nước”, “thương nhà” lên đầu hai câu thơ.

Thêm vào đó, bài thơ còn diễn tả một cách trực tiếp nỗi cô đơn của nữ thi sĩ qua hai câu thơ kết thúc bài thơ.

Giữa khoảng không gian rộng lớn của đất trời, dường như càng làm tô đậm thêm sự nhỏ bé, cô đơn của tác giả. Thêm vào đó, những sự vật tưởng như luôn song hành, đi cùng và quyện hòa vào nhau nên lại chia lìa, xa cách nhau – điều này thể hiện rõ nét qua việc sử dụng các dấu phẩy, tách các sự vật “trời”, “non”, “nước’.

Dường như, chính cái nhìn chia lìa, chính tâm trạng của tác giả đã có tác động sâu sắc tới cái nhìn đầy sự chia cách ở của cảnh vật. Và để rồi, câu thơ kết thúc bài thơ như một tiếng thở dài diễn tả trực tiếp nỗi niềm của nhà thơ. Không gian rộng lớn nhưng nơi đây chỉ có “mảnh tình riêng” – chỉ một mảnh tình riêng “ta với ta”.

Nếu như “ta” thường dùng để chỉ cái chung cho cả cộng đồng, tập thể thì giờ đây nó chỉ còn là cái cá nhân, cái riêng của tác giả. Để rồi, hai câu thơ cuối đã cho chúng ta thấy nỗi cô đơn, bơ vơ, lạc lõng giữa cái mênh mông, bao la, rộng lớn của thiên nhiên. Như vậy, bài thơ đã cho chúng ta thấy nỗi niềm của tác giả khi bước tới đèo Ngang – nỗi nhớ nước, nhớ nhà và nỗi cô đơn, lạc lõng.

Không chỉ thành công về mặt nội dung, bài thơ Qua đèo Ngang còn hấp dẫn bạn đọc bởi những nét độc đáo, đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết, bài thơ đã đạt đến sự chuẩn mực trong việc sử dụng thể thơ Đường luật. Với thể thơ thất ngôn bát cú, mặc dù đã được Việt hóa, song bài thơ không những tuân thủ một cách nghiêm ngặt mà còn đạt đến độ chuẩn mực của thể thơ này về niêm, luật, vần với ngôn ngữ trau chuốt, giàu giá trị.

Thêm vào đó, thành công của bài thơ còn ở nghệ thuật tả cảnh ngụ tình được sử dụng tài năng và đem đến hiệu quả nghệ thuật to lớn. Ẩn sau bức tranh cảnh vật nơi đèo Ngang vào buổi xế chiều đã thể hiện một cách rõ nét nỗi niềm tâm trạng – nỗi buồn man mác của nhà thơ khi phải rời xa quê hương. Và cuối cùng, nghệ thuật đảo ngữ, chơi chữ cùng việc sử dụng các từ láy góp phần không nhỏ vào thành công của tác phẩm.

Tóm lại, bài thơ Qua đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan với những nét đặc sắc về nghệ thuật đã vẽ nên bức tranh cảnh vật chiều tà nơi đèo Ngang rộng lớn, mênh mông, đâu đó hiện lên sự sống của con người nhưng vẫn còn hoang dại và để rồi từ đó thể hiện rõ nét nỗi niềm tâm trạng của nữ thi sĩ.

Có thể bạn sẽ thích 🌼 Cảm Nhận Về Bài Thơ Rằm Tháng Giêng 🌼 15 Bài Biểu Cảm Hay

Bài văn cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang ngắn gọn sẽ giúp các em học sinh ôn tập nhanh chóng để chuẩn bị cho bài viết trên lớp.

Bà Huyện Thanh Quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại Việt Nam. Thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài Qua đèo Ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi trên đường vào kinh đô Huế nhận chức.

Mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

Hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung đại, đây đồng thời cũng là nét đặc trưng phong cách của Bà Huyện Thanh Quan: chiều tà và bóng hoàng hôn. Thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc đầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nắng chỉ còn nhạt nhòa và sắp lặn. Không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.

Trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. Từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này còn gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. Không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu.

Bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của con người:

Những tưởng rằng với sự xuất hiện của sự sống con người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô đơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. Sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. Nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cái “lác đác” của mấy ngôi nhà ven sông kết hợp các từ chỉ số lượng ít ỏi “vài”, “mấy” khiến cho hình bóng con người đã nhỏ lại càng nhỏ hơn, cuộc sống đã hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.

Bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. Nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiều phu, chợ. Thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cước hiu quạnh, heo hút.

Bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/ Thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. Những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của Bà Huyện Thanh Quan. Tài dùng chữ của bà đã đạt đến độ điêu luyện: chữ quốc là nước đồng âm với chữ cuốc tức con chim, chữ gia là nhà gần âm với từ chữ đa là chim đa đa.

Chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi niềm của nữ sĩ. Vì phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. Còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. Hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.

Hai câu thơ cuối bộc lộ trực tiếp nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhà thơ: “Dừng chân đứng lại trời, non, nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Không gian mênh mông khiến con người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. Sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia lìa đôi ngả, trời, non, nước được tách biệt với nhau bằng những dấu phẩy, đó là cái nhìn mang tính tâm trạng của chính tác giả.

Câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không còn mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. Trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.

Không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. Bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được Việt hóa. Sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.

Qua bài thơ Qua đèo Ngang ta không chỉ ấn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển đường thi và chất dân dã của dân tộc, mà còn bị cuốn hút bởi nội dung. Bức tranh phong cảnh đèo Ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.

Xem nhiều hơn 🌹 Cảm Nhận Về Bài Thơ Quê Hương 🌹 15 Bài Văn Hay Nhất

Bài văn cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang ngắn nhất sẽ giúp các em học sinh tham khảo cách hành văn súc tích với câu từ gãy gọn, giàu ý nghĩa biểu đạt.

Trong nền văn học Trung đại Việt Nam có lẽ sẽ chẳng ai quên được hai nữ nhà thơ tài năng: Hồ Xuân Hương và bà huyện Thanh Quan. Nếu ở bà chúa thơ Nôm ta thấy nét bứt phá, hơi nổi loạn thì ta lại tìm thấy những xúc cảm trầm buồn nhẹ nhàng ở bà huyện Thanh Quan. Tiêu biểu đó là bài “Qua đèo ngang”. Sáng tác trong một lần tác giả đi vào Huế để nhậm chức. Trên đường có đi qua địa danh này, nỗi lòng yêu nước nhớ quê hương, xót nước lạo trào dâng làm cảm hứng để tác giả ngẫu hứng bật ra những vần thơ.

Bài thơ viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với đầy đủ theo cấu trúc truyền thống của thể loại này, bao gồm: đề, thực, luận, kết. Qua đó đã diễn tả những nỗi niềm tâm tư của tác giả về đất nước. Đó là tuyệt thi thấm đượm nỗi buồn man mác, bâng khuâng, để lại trong lòng mỗi người không ít u sầu về lòng người cũng như thế sự đương thời bấy giờ.

Vừa đặt chân đến chốn đây cũng là lúc mặt trời đổ bóng. Thời gian lúc này là ” bóng xế tà “, là khoảnh thời gian kết thúc của một ngày. Xưa kia văn thơ trung đại người ta thường chỉ lấy buổi chiều làm hình ảnh trong thi phẩm chỉ khi lòng người mang đậm nỗi buồn. “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, phải chăng là nỗi lòng bà huyện Thanh quan tài năng kia cũng mang một nỗi niềm về thế thời.

Từ “chen” được điệp đến hai lần trong một câu thơ như tăng thêm chất hiu quạnh hơn. Nghệ thuật tiểu đối trong cùng một câu tạo nên nhịp thơ đăng đối hài hoà. Thêm đó lại càng làm bức tranh chiều tăng thâm phần hiu quạnh.

Dấu hiệu sự sống, con người đến hai câu thực đã dần xuất hiện. Hình ảnh “tiều vài chú, chợ, mấy nhà” đó là tất cả hơi thở cuộc sống nơi đây. Một lần nữa nghệ thuật tiểu đối trong các câu, giữa các câu đã phần nào tô thêm vào bức tranh con người nơi đây. Biện pháp tu từ đảo ngữ được tác giả sử dụng triệt thành công ” Lom khom, lác đác”. Đồng thời cũng là những từ láy nhằm chỉ sự hoạt động nhỏ nhặt nhấn mạnh vào sự cô quạnh nơi đây. Đòng thời lột tả về nhịp sống mong manh, thưa thớt mà tẻ nhạt thiếu sức sống.

Dường như đến hai câu luận nỗi niền tâm sự càng thên trĩu nặng hơn. “Con quốc quốc” và “cái da da” tạo nên âm hưởng dìu dặt da diết cho âm điệu của câu thơ. Những cảm xúc, dòng suy nghĩ dần bộc lộ rõ hơn của tác giả. Là một nữ sĩ tài năng, tài tú không những thế bà còn là người mang nặng nòng với niềm mất nước trước bấy giờ. Thủ pháp lấy động tả tĩnh được khai thác đã khắc hoạ thêm cái u sầu của bài thơ.

Nghe tiếng kêu rỉ máu của “cuốc cuốc” và cái “da da” mà lòng người thêm thê lương đau đáu về nỗi niềm thế sự. Thương cho thảm cảnh đất nước phân li, nước mất nhà tan lú bầy giờ. Dường như để tránh, xoa dịu nỗi đau ấy tác giả đã sáng tạo thay vì “quốc quốc, gia gia” trong từ quốc gia thay bằng từ đồng âm. Nhưng nỗi niềm của bà huyện Thanh Quan vẫn khắc sâu ở đó, vẫn đau đáu trìn tâm khảm, vẫn nặng trĩu u sầu thậm chí thấm đượm trong cả cảnh vật.

Đến hai câu kết:

Non nước giờ đây hiện hữu trước mắt nhưng thay vì thấy sự hùng vĩ tráng lệ thì ta lại vẫn buồn vì những chữ ” dừng chân đứng lại”. Phải chăng cái dừng chân ấy có phải là cái dừng chân, cái dáng đứng bất lữ trước thế thời của tác giả. Mảnh đất bao la của “cuốc da” mà lòng người thấy cô đơn lạc lõng biết bao, đứng trước cái mênh mông ấy nên bà chỉ cảm thấy ” mảnh tình con con”. Bởi thế mà cụm từ đầy sáng tạo “ta với ta” thêm khắc sâu nỗi buồn man mác trĩu nặng lòng người hơn.

Bài thơ “Qua đèo ngang” với tài năng nghệ thuật tác giả, kết hợp nhuần nhuyễn giữa các từ láy, các phép đối đã làm nên một thi phẩm để đời. Qua đó ta thấy thêm hiểu nỗi lòng của một thi nữ tài năng mà cũng đầy trân trọn và cảm thông với bà.

Gợi ý cho bạn 🍀 Thuyết Minh Về Bài Thơ Ông Đồ 🍀 12 Bài Văn Hay Nhất

Để viết bài cảm nghĩ hay về bài thơ Qua đèo Ngang đạt điểm cao, các em học sinh có thể tham khảo gợi ý làm bài sau đây:

Ai đã từng một lần đi trên con đường xuyên Việt, hẳn đều biết đến đèo Ngang. Đây là một đèo khá dài và khá cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy Hoành Sơn, trước khi đâm ra biển. Lên đến đỉnh đèo, du khách sẽ được thưởng thức cảnh đẹp tuyệt vời của thiên nhiên hùng vĩ: núi non trùng điệp, đại dương bao la, trời cao thăm thẳm.

Đèo Ngang là ranh giới tự nhiên giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô Huế để thi cử hay làm việc cho triều đình phong kiến đã đi qua đèo này rồi lâng lâng xúc cảm trước vẻ đẹp của nó mà làm thơ ca ngợi. Bà Huyện Thanh Quan nhân dịp từ Thăng Long vào Huế nhậm chức Cung trung giáo tập (dạy dỗ các cung nữ trong cung) đã sáng tác bài Qua đèo Ngang.

Đằng sau bức tranh phong cảnh thiên nhiên là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huy hoàng đã qua. Có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ sáng tác về thắng cảnh này.

Câu đề đơn giản chỉ là lời giới thiệu về thời điểm tác giả đặt chân đến đèo Ngang:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Đó là lúc mặt trời đang lặn, phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. Thời điểm này rất dễ gợi buồn trong lòng người, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương. Tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc:

Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.

Cỏ cây, hoa lá chen nhau mọc bên đá núi. Có cái gì đó như linh hồn của tạo vật thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen, các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa miêu tả sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang vu. Cảnh đẹp thì có đẹp nhưng nhuốm màu buồn bã, quạnh hiu, thiếu hơi ấm con người. Những bông hoa rừng đây đó không đủ làm sáng, làm vui bức tranh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.

Trên bối cảnh thiên nhiên bao la ấy thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạt, xa vời:

Con mắt tinh tế của nhà thơ phát hiện ra nét đặc trưng của người và cảnh trước tiên nên bà đã dùng nghệ thuật đảo ngữ để nhấn mạnh đặc trưng ấy. Dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non làm cho con người vốn đã nhỏ bé lại càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao rộng. Cái chợ là nơi biểu hiện sức sống của một cộng đồng làng xã, lẽ ra tấp nập đông vui, nhưng ở đây nó chỉ là mấy túp lều xơ xác bên sông…

Bao trùm lên cảnh vật là một nỗi buồn tê tái và nỗi buồn ấy thấm sâu vào lòng người:

Giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đôi ấy bỗng vẳng lên tiếng chim quốc khắc khoải, tiếng chim đa đa não nuột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trước cảnh, đó là tài hoa của nữ sĩ.

Tiếng chim kêu không làm cho cảnh vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. Phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước thương nhà?!

Hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. Cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. Vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:

Quả là một nỗi buồn lớn lao, thấm thía, khó san sẻ, giãi bày. Nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót: ta với ta. Chỉ có ta hiểu lòng ta mà thôi! Vì thế nên sự cô đơn càng tăng lên gấp bội.

Bài thơ Qua đèo Ngang tuy ra đời cách đây đã hơn một thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn trước thử thách của thời gian. Bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và ca ngợi tài năng của tác giả. Thể thơ Đường luật kiểu cách, sang trọng vào tay nữ sĩ đã trở thành gần gũi, dễ hiểu với người đọc bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng và những hình ảnh dân dã quen thuộc. Đọc bài thơ, chúng ta thêm yêu Tổ quốc với bao phong cảnh tuyệt vời và càng trân trọng những tâm lòng ưu ái non sông đất nước.

Tham khảo văn mẫu 🌳 Thuyết Minh Về Bài Thơ Đập Đá Ở Côn Lôn 🌳 11 Mẫu Hay

Bài văn trình bày cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang nâng cao sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho các em học sinh.

Câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam. Thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hoà sức sống. Chính vì vậy, thiên nhiên luôn là dề tài bất tận của thi ca. Lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời.

Nhưng đồng thời, cảnh vật cũng sẽ nhuốm màu ảm đạm, thê lương dưới ánh mắt của các nhà thơ mang một tâm sự u hoài khi sáng tác một bài thơ tức cảnh. Vì thế, đại thi hào Nguyễn Du đã từng nói: Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Câu thơ thật thích hợp khi ta liên tưởng đến bà Huyện Thanh Quan với bài thơ Qua đèo Ngang.

Phải hiểu rõ và yêu quý bài thơ mới thấy hết được tài năng cũng như tư tưởng luôn hướng về quê hương đất nước và gia đình của bà Huyện Thanh Quan. Ai dám bảo rằng người phụ nữ trong xã hội phong kiến không có được những tình cảm thiêng liêng đó?

Chỉ mới đọc hai câu đầu của bài thơ thôi là ta đã nhận ngay ra một nỗi buồn xa vắng:

Câu thơ xuất hiện cụm từ “bóng xế tà” và sự hiện diện của điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. Từ “tà” như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. Yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. Ca dao cũng đã có câu:

Thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. Mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ Qua đèo Ngang, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật ở Hoành Sơn.

Cảnh vật đã buồn lại trống vắng hơn bởi điệp từ “chen” ở câu thứ hai. Nó làm cho người đọc thơ bỗng cảm nhận được sự hoang vắng của đèo Ngang lúc chiều tà, bóng xế mặc dù nơi đây rất đẹp: có cỏ cây, đá, lá, hoa. Vì ở đây vắng vẻ quá nên thi sĩ đã phóng tầm mắt để tìm kiếm một chút gì gọi là sự sống linh động. Và kìa, phía xa xa dưới chân đèo xuất hiện hình ảnh:

Câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gió. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở đây. Nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn.

Sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. Từ vài, mấy như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. Trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

Từ ghép đau lòng, mỏi miệng khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. Cụm từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của con chim quốc, chim gia gia do tác giả cảm nhận được hay chính là nghệ thuật ẩn dụ để nói lên tâm sự từ trong sâu thẳm tâm hồn của nữ sĩ? Nghệ thuật chơi chữ “quốc quốc gia gia” phải chăng là Tổ quốc và gia đình của Bà Huyện Thanh Quan hồi đó?

Sự song song về ý, về lời của hai câu thơ trong phần luận của bài thơ này nhằm nhấn mạnh tình cảm của bà Huyện Thanh Quan đối với Tổ quốc, gia đình trước cảnh thật là khéo léo và tài tình. Từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo Ngang đã khiến cho tác giả sực nhớ đến mình và tâm sự:

Câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. Dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với núi, với sông khiến cho con người cảm thấy mình bé nhỏ lại, đơn độc, trống vắng, ở đây, chỉ có một mình bà ta với ta, lại thêm mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái.

Vũ trụ bao la quá! Con người cô đơn quá! Tất cả lại được diễn tả dưới ngòi bút tài hoa của người nữ sĩ nên bài thơ là bức tranh đặc sắc. Cụm từ “ta với ta” như một minh chứng cho nghệ thuật điêu luyện trong sáng tác thơ ca của bà Huyện Thanh Quan.

Bởi vì cũng “ta với ta” nhưng nhà thơ Nguyễn Khuyến lại nói:

Bác đến chơi đây ta với ta

Lại là sự kết hợp của hai người: tuy hai mà một, tuy một mà hai. Còn bà Huyện lại:

Một mảnh tình riêng ta với ta.

đã tô đậm thêm sự lẻ loi, đơn chiếc của mình. Qua câu thơ, ta như cảm nhận sâu sắc hơn nỗi niềm tâm sự của tác giả trước cảnh tình quê hương…

Từ xưa đến nay, có nhiều nhà thơ tả cảnh đèo Ngang nhưng không ai thành công bằng bà Huyện Thanh Quan vì trong tác phẩm của bà có cả tâm hồn, tình cảm, nỗi lòng và tài năng của một cây bút tuyệt vời. Cả bài thơ được gieo vần “a” như chính tâm sự hoài cổ của tác giả. Chúng ta không tìm thấy dù chỉ một chút gọi là sự ồn ào trong cách miêu tả. Tất cả chỉ là sự trầm lắng, mênh mang như chính tâm sự của tác giả.

Lời thơ nghe xao xuyến, bồi hồi làm cho người đọc xúc động cũng chính là những cảm xúc sâu lắng của bà Huyện Thanh Quan khi đặt chân lên đèo Ngang trong khung cảnh miền núi khi hoàng hôn buông xuống. Cũng những cảm xúc ấy, ta sẽ gặp lại khi đọc bài Chiều hôm nhớ nhà của bà với câu:

Để tỏ lòng biết ơn đối với nhà thơ xưa đã cho ta những phút giây có được tình cảm tốt đẹp xuất phát từ đáy tâm hồn, từ sự rung cảm thật sự, người đời đã đặt một tên làng, một tên đường: Bà Huyện Thanh Quan để mãi mãi ghi nhớ tài năng cũng như tư tưởng tuyệt vời của người, nữ sĩ đối với non sông, đất nước một thời đã qua.

Giới thiệu tuyển tập 🌟 Nghị Luận Bài Nhàn 🌟 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Tài liệu văn nêu cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang học sinh giỏi sẽ mang đến những phân tích và cảm nhận sâu sắc nhiều tầng nghĩa của tác phẩm.

Đèo Ngang là địa danh thuộc ngọn Hoành Sơn, một nhánh nhỏ của dãy núi Trường Sơn, cắt ngang, phân định ranh giới của hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, đây cũng là nơi khơi gợi nguồn cảm hứng sáng tác của nhiều văn nhân thi sĩ. Trong đó phải kể đến Cao Bá Quát với Đăng Hoành Sơn, Nguyễn Khuyến với Quá Hoành Sơn, và nổi tiếng hơn cả phải kể đến Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan, một trong hai nữ thi sĩ tài năng nhất của văn học học trung đại Việt Nam cùng với Hồ Xuân Hương.

Khác với giọng thơ cá tính, sắc nhọn, thâm sâu của bà chúa thơ Nôm thì Bà Huyện Thanh Quan lại gây ấn tượng với người đọc bằng một phong cách thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, chất chứa nhiều những cảm xúc suy tư. Đặc biệt là với thủ pháp tả cảnh ngụ tình trong bài Qua Đèo Ngang thì phong cách thơ của bà lại càng được bộc lộ rõ hơn cả.

Nếu đọc Qua Đèo Ngang một lần, ta sẽ nhận thấy rằng cả bài thơ hầu như chỉ tả cảnh, nếu như không nắm được hoàn cảnh sáng tác và tâm trạng của tác giả người xem có lẽ dễ dàng nhầm tưởng đây là một bài thơ với bức tranh phong cảnh thiên nhiên nhuốm màu trầm. Thế nhưng nếu đọc và phân tích từng ý người ta mới thấy thấm cái tình ưu tư của thi nhân trong từng câu chữ, trong từng cảnh vật, dừng như một câu tả vật cũng chính là một câu tả tình, vô cùng sâu sắc.

Mở đầu bài thơ hai câu đề gợi ra một khung cảnh lưng đèo rộng lớn, khoáng đạt và bao la thế nhưng lại có chút buồn bã vây quanh. Cái buồn ấy xuất phát từ khoảng thời gian mà tác giả đã gợi ra trong bài bằng cụm từ “bóng xế tà”, có thể thấy bóng xế tà không phải là một mốc thời gian nào đó cụ thể, mà nó là sự miêu tả có chút mơ hồ về cảnh hoàng hôn sắp tắt, khi mặt trời đã khuất dạng.

Cái còn lại chính là những tia sáng cuối cùng trong ngày, xen lẫn với màu đen của đêm tối tạo thành một màu xam xám bao phủ núi rừng, phủ lên cả người lữ khách đang dừng chân bên đèo tạo nên cảm giác nhạt nhòa, lặng lẽ và buồn man mác. Về âm điệu cụm từ “bóng xế tà” khi đó có cảm giác buông xuống nhẹ nhàng, và hơi day dứt, dường như là sự nuối tiếc về một cái gì đó sắp kết thúc.

Và trong thực tế cuộc sống cũng như trong thi ca thì khoảnh khắc hoàng hôn buông, chiều tàn, ngày tàn thì luôn gợi ra con người những nỗi buồn không tên, đặc biệt đối với những con người hữu tình như tác giả thì nỗi buồn ấy lại càng trở nên thấm thía, sâu sắc thậm chí lan tỏa sang cả khoảng không gian mênh mông, rộng lớn xung quanh mình.

“Cỏ cây chen đá lá chen hoa” gây ấn tượng với thủ pháp điệp từ “chen” và biện pháp nhân hóa thế nhưng nó lại không đem đến những hiệu quả như làm cho khung cảnh thiên nhiên thêm sinh động hấp dẫn mà trái lại nó lại mang đến cảm giác rậm rạp, um tùm, cây cối chen chúc nhau giành giật sự sống. Khiến con người đứng giữa khung cảnh ấy có chút ghê sợ, cô đơn và lạnh lẽo, điều này kết hợp với cái cảnh nhá nhem tối lại đem đến trong lòng tác giả thêm nhiều suy tư.

Đến hai câu thực khung cảnh thiên nhiên hoang vắng đã bắt đầu có sự sống của con người, thế nhưng việc sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, đưa hai từ láy “lom khom” và “lác đác” lên đầu câu đã khiến cho ý của câu thơ có phần khác lạ. Thứ nhất xét từ “lom khom”, đó là dáng đứng cúi thấp mình, gánh củi của các tiều phu, sự xuất hiện của con người vốn đã ít ỏi chỉ có “tiều vài chú” mà dường như lại còn bị thiên nhiên lấn át.

Ở đây con người đã hoàn toàn trở nên nhỏ bé và phụ thuộc vào thiên nhiên, sự xuất hiện của những con người thưa thớt lại càng tô đậm thêm cái quang cảnh thiên nhiên quá đỗi hùng vĩ, quá đỗi lạnh lẽo, hoang vắng buổi chiều tàn. Khi tác giả phóng tầm mắt ra xa thì thấy xuất hiện những ngôi nhà, vốn dĩ luôn là cái mà người lữ khách thường hướng đến mỗi khi đi xa, để tìm cảm giác ấm áp, cảm giác thân thuộc, để xóa nhòa đi nỗi cô đơn vắng vẻ.

Thế nhưng trong câu thơ này cái sự ấm áp đã hoàn toàn bị hai từ “lác đác” lấy đi, mà thay vào đó cả câu thơ lại gợi sự chán nản, heo hút, mệt mỏi, thiếu sức sống trong khung cảnh dẫu rằng đã có sự xuất hiện của con người. Nhìn vào cách miêu tả, có thể nhìn ra tâm trạng của tác giả đó là nỗi cô đơn, trống vắng, sự lạc lõng giữa không gian rộng lớn, là sự chơi vơi bất định giữa thời cuộc.

Nếu xét kỹ hơn người ta có thể liên hệ với tình cảnh của tác giả để hình dung ra nỗi buồn đang chất chứa trong lòng nữ sĩ, ấy là nỗi lòng nhớ nhà tha thiết của một người con xa xứ, rời xa chốn phồn hoa đô hội, nay nhìn cảnh thưa thớt, lạnh lẽo lại càng thêm thương nhớ quê hương.

Ở hai câu luận, sự sống xuất hiện nổi bật hơn với tiếng chim rừng kêu vang, thế nhưng cũng tương tự với mạch cảm xúc ở những câu thơ đầu, sự sống xuất hiện không hề mang đến sự vui vẻ, sinh động, ấm áp mà trái lại mang đến những cảm xúc buồn bã, day dứt. Chim quốc và chim đa đa nổi tiếng là những loài chim có tiếng kêu thảm thiết, não nề vô cùng, nghe tiếng chim mà lòng người chùng xuống hẳn, cảm xúc buồn thương lập tức tràn về trong tâm can.

Đặc biệt giữa một không gian rộng lớn hoang vu như thế, tiếng chim nghẹn ngào, day dứt vang lên càng làm tăng sự hoang vắng tĩnh lặng của thiên nhiên rộng lớn, cô lập con người trong mối sầu tư. Mà với Bà Huyện Thanh Quan đó là nỗi nhớ thương quê nhà da diết, là buồn khổ xa xứ, lòng đau xót, bất lực trước thời cuộc rối ren, từ đó cũng nhận thấy được lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết, sâu nặng và thầm kín của tác giả được thể hiện thật tinh tế qua cảnh sắc thiên nhiên.

Hai câu kết đã khép lại bài thơ với những cảm xúc buồn thương sâu lắng, đồng thời cũng mở một chân trời cảm xúc mới bằng một giọng thơ chậm rãi, như tâm sự. Cái “dừng chân” của lữ khách không chỉ đơn thuần là sự nghỉ ngơi sau những ngày đường mệt mỏi, mà còn là sự lắng đọng cảm xúc trong tâm hồn của thi sĩ.

Trước khung cảnh rộng lớn, bao la “trời non nước”, tác giả dần mở lòng bộc lộ cái tôi cá nhân của mình, trước hết đó là cảm xúc cô đơn lẻ loi, lạc lõng trước thiên nhiên. Sau là ý thức về cái tôi cá nhân, về việc giữ riêng cho mình tâm hồn hồn thanh cao, lòng yêu nước sâu sắc, từ chối những sự nhiễu nhương của thời cuộc, bà đã dần buông bỏ những vướng bận cuộc đời, quyết để tâm hồn thanh tịnh với chỉ “một mảnh tình riêng ta với ta”.

Qua Đèo Ngang là một bài thơ thất ngôn bát cú xuất sắc, với bút pháp tả cảnh ngụ tình tinh tế và tài hoa, thông qua cảnh sắc thiên nhiên Bà Huyện Thanh Quan đã gửi gắm vào đó những nỗi niềm cảm xúc cá nhân, đó là nỗi nhớ nhà, tình yêu quê hương đất nước và sự đau xót, bất lực trước thời cuộc biến đổi. Để lại trong lòng độc giả những cảm xúc khó quên, thấm thía nỗi buồn man mác, sự cô đơn, lẻ loi của của tác giả giữa cuộc đời, giữa thiên nhiên rộng lớn.

Ngoài ra, tại chúng tôi còn có 🌺 Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà 🌺 15 Mẫu Đặc Sắc

Gợi ý viết bài văn cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang đặc sắc sẽ giúp các em học sinh hoàn thành tốt và đạt kết quả cao cho bài viết của mình.

Cùng với Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan là ba gương mặt nhà thơ nữ nổi tiếng nhất thế kỉ XVIII, nếu như thơ của Hồ Xuân Hương có cái sắc sảo, cá tính thì thơ của Đoàn Thị Điểm lại nhẹ nhàng nhưng vô cùng da diết khi viết về quá khứ huy hoàng đã qua, khi nói về nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương. Bài thơ Qua đèo ngang là tác phẩm nổi tiếng của Bà Huyện Thanh Quan.

Bà Huyện Thanh Quan hay viết về thiên nhiên, phần lớn vào lúc xế chiều, gợi lên cảm giác vắng lặng buồn buồn. Cảnh trong thơ bà giống như bức tranh thủy mặc, chấm phá, diễn tả bằng nghệ thuật ước lệ. tả cảnh để gửi gắm tình cảm nhớ thương da diết đối với quá khứ vàng son của một thời đã qua.

Khi nhà thơ bước chân đến đèo ngang cũng là thời điểm chiều buông. Hình ảnh bóng xế tà không chỉ gợi ra không gian đất trời khi mặt trời bắt đầu lặn, màn đêm chuẩn bị buông, vừa gợi ra được nhịp vận động lờ lững, chậm chạp của những đám mây trên bầu trời. Không gian được gợi ra có chút hoang vắng, lại ẩn nhẫn sự cô đơn, lạc lõng của nhân vật trữ tình. “Cỏ cây chen đá lá chen hoa”, tác giả đã điệp từ chen vừa gợi ra cái đông đúc, rậm rạp của cỏ cây nơi mình đặt chân đến, đồng thời lại gợi ra được vẻ hoang sơ, tự nhiên của chốn núi rừng.

Từ láy “lom khom’ gợi ra dáng vẻ của người tiều phu trở về nhà trong khung cảnh chiều buông, “lác đác” lại gợi ra sự thưa thớt, trống vắng của không gian sống, không gian sinh hoạt. Trong hai câu thơ này, bóng dáng con người thấp thoáng dưới núi có phần nhỏ bé, không gian sống chưa kịp gợi lên sự ấm áp thì bị sự thưa thớt về khoảng cách đẩy lùi. Do đó có nói về con người, về sự sống thì cũng không làm cho bức tranh thơ bớt đi vẻ u buồn, tịch mịch. Cuộc sống đã thưa thớt lại tiêu điều đến thê lương với sự lác đác của lều chợ.

Tầm nhìn được mở rộng nhưng lại gợi sâu thêm nỗi cô đơn, trống vắng của con người tha phương nơi đất khách:

Thời điểm chiều tà với không gian vắng vẻ, u buồn thường gợi nhắc con người ta nhớ về quê hương, đặc biệt là đối với những người xa xứ. Bởi đây chính là thời điểm những người thân trong gia đình đều trở về cùng sum họp dưới mái ấm gia đình. Bởi vậy mà trong không gian chiều tà, tại đèo ngang vắng lặng, hoang sơ, nữ sĩ Bà Huyện Thanh Quan hướng nỗi nhớ của mình đến gia đình, đến quê hương. Đây là tình cảm đầy tha thiết, chân thành của một người con xa quê, bà nhớ nhà, nhớ quê hương. Một nỗi buồn trĩu nặng, khó nguôi ngoai.

Cảnh đèo ngang hiện lên với trời, non, nước đã gợi ra không gian mênh mông, bao la bát ngát mà xa lạ:

Trước không gian mênh mông của đất trời, của thiên nhiên,con người thường cảm nhận được sự rộng lớn, rợn ngợp mà thấu hiểu sâu sắc nỗi cô đơn, sự nhỏ bé của mình. Bà Huyện Thanh Quan cũng vậy, xa quê đi thực hiện nhiệm vụ không tránh khỏi những nỗi cô đơn nơi đất khách quê người. “Dừng chân” gợi ra sự nghỉ ngơi của đôi chân, nhưng lại mở ra sự vận động đầy da diết trong tâm hồn của người thi sĩ, đó chính là nỗi nhớ nhà, nỗi nhớ quê hương.

Trong không gian mênh mông, rợn ngợp lại chỉ có một mình nên Bà Huyện Thanh Quan cũng không thể dãi bày tâm sự với ai mà chỉ có thể ôm ấp cho riêng mình “Một mảnh tình riêng ta với ta”.

Như vậy, bài thơ Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan nổi bật lên với cảm xúc u buồn cùng nỗi nhớ nhà, nhớ quê da diết của nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ ấy không chỉ thể hiện tấm lòng yêu thương, tình yêu chân thành đối với quê hương đất nước mà còn thể hiện được tình cảnh lẻ loi, đơn độc của nhân vật này trong không gian hoang vắng, rợn ngợp của đất trời.

SCR.VN tặng bạn 💧 Nghị Luận Chiều Tối 💧 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

“Qua đèo Ngang” là tác phẩm nổi tiếng nhất của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ được viết khi bà trên đường vào Phú Xuân, đi qua đèo Ngang – một địa danh nổi tiếng ở nước ta với phong cảnh hữu tình. Bằng giọng thơ man mác, hồn thơ tinh tế và lối thơ điêu luyện, “Qua đèo Ngang” không chỉ là bức tranh thiên niên đầy màu sắc mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của tác giả, có chút gì đó nuối tiếc về thời phong kiến huy hoàng đã dần tàn lụi.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Mở đầu là hai câu đề:

Chỉ với câu thơ đầu tiên tác giả đã khái quát lên toàn bộ về hoàn cảnh, không gian, thời gian khi viết bài thơ. Cách mở đầu rất tự nhiên, không hề gượng ép, tưởng như tác giả chỉ thuận chân “bước đến” rồi tức cảnh sinh tình trước khung cảnh đèo Ngang trong buổi chiều hoàng hôn “bóng xế tà”. Hình ảnh “bóng xế tà” lấy ý từ thành ngữ “chiều ta bóng xế” gợi cho ta một nét gì đó buồn man mác, mênh mang, có chút nuối tiếc về một ngày đang sắp qua.

Trong khung cảnh hoàng hôn đẹp mà buồn ấy, tác giả chú ý đến một vài hình ảnh độc đáo của đèo Ngang “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”. Với việc nhân quá các loại cảnh vật qua động từ “chen” cùng với phép liệt kê hàng loạt cho ta thấy nét sống động trong bức tranh khung cảnh này. Cỏ cây cùng với đá núi, lá và hoa đua nhau vươn lên đầy sức sống. Những hình ảnh nhỏ bé nhưng sức sống thật mãnh liệt. Trong ánh chiều tà lụi tàn mà còn bắt gặp được những hình ảnh này để lại cho ta thật nhiều suy nghĩ.

Hai câu thực là khi tác giả đang ở trên đèo cao, phóng mắt nhìn về xung quanh, xa hơn những đá núi, cây cỏ để tìm đến bóng dáng con người:

Hình ảnh con người đã hiện ra nhưng dường như chỉ làm bức tranh thêm hiu hắt. Tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ cũng với từ láy gợi tả để thể hiện lên điều này. Con người ở đây chỉ có “tiều vài chú” kết hợp với từ láy “lom khom” dưới núi. Cảnh vật thì “lác đác” “chợ mấy nhà”. Tất cả quá nhỏ bé so với cảnh thiên nhiên hùng vĩ của đèo Ngang. Dường như không khí vắng vẻ, hiu quạnh bao trùm lên toàn cảnh vật.

Hai câu luận là nỗi buồn được khắc họa rõ nét qua những âm thanh thê lương:

Tiếng kêu thiết tha hay chính là tiếng lòng tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ từ điển tích xưa về vua thục mất nước hóa thành con cuốc chỉ biết kêu “cuốc cuốc”. Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều thêm tĩnh lặng. Còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi “thương nhà”. Ở đây cảm xúc của nhà thơ được bộc lộ rõ rệt. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp nhân hóa cùng chuyển đổi cảm giác gây ấn tượng mạnh đã cho ta thấy được tấm lòng yêu nước thương nhà của Bà Huyện Thanh Quan.

Hai câu kết, khép lại những cảm xúc cũng như khung cảnh thiên nhiên của bài thơ:

Cảnh vật đèo Ngang thật hùng vĩ khiến tác giả dừng chân không muốn rời. Cái bao la của đất trời, núi non, sông nước như níu chân người thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la hùng vĩ ấy, tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần dâng lên “một mảnh tình riêng ta với ta”.

Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn thì nỗi cô đơn của người lữ khác cũng càng đầy. Một mảnh tình riêng, một nỗi lòng sâu kín, những tâm sự đau đáu trong lòng mà không biết chia sẻ nhắn nhủ với ai. Âm hưởng nhịp điệu câu thơ như một tiếng thở dài nuối tiếc.

“Qua đèo Ngang” là lời nhắn gửi tâm sự của nỗi lòng tác giả đến người đọc. Bài thơ không chỉ là một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đượm nét buồn mà còn là những tiếc nuối, một tấm lòng yêu nước thương dân. Phải thật giàu cảm xúc, thật yêu thiên nhiên cùng con người, Bà Huyện Thanh Quan mới có thể để lại những vần thơ tuyệt tác như vậy.

Đón đọc tuyển tập 💕 Nghị Luận Tràng Giang 💕 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Cảm nhận về bài thơ Qua đèo Ngang luyện viết sẽ giúp các em học sinh nâng cao kỹ năng làm bài nghị luận văn học. Tham khảo bài văn mẫu đặc sắc sau đây:

Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Thơ là cái nhụy của cuộc sống, nên nhà thơ phải đi hút cho được cái nhụy ấy và phấn đấu làm sao cho cuộc đời của mình cũng có nhụy”. Thật đúng như vậy, mỗi nhà thơ đều chọn cho mình một lối đi riêng biệt để thể hiện phong cách nghệ thuật sáng tác của riêng mình.

Ta bắt gặp Hồ Xuân Hương với cái “tôi” sôi nổi cá tính muốn đấu tranh cho thân phận bèo trôi của người phụ nữ qua “Bánh trôi nước”. Đến với thơ Bà Huyện Thanh Quan ta lại thấy một cái “tôi” nhẹ nhàng với những nỗi nhớ nước thương nhà da diết qua bài thơ “Qua đèo Ngang”.

Bà Huyện Thanh Quan được biết đến với danh tiếng là một nữ sĩ tài ba hiếm có trong thời đại xưa. Thơ của bà luôn chất chứa những nỗi nhớ đầy vơi, những miền kí ức lạ. Bài thơ “Qua đèo Ngang” là một trong số những bài thơ Đường luật xuất sắc nhất của bà và luôn được các thế hệ bạn đọc đón nhận. Với tình yêu quê hương đất nước luôn cháy bỏng, “Qua đèo Ngang” chính là một tuyệt phẩm về tả cảnh ngụ tình của tác giả để giãi bày nỗi nhớ nước thương nhà đến đau lòng.

Không phải bất cứ nỗi nhớ nào cũng có thể diễn tả bằng lời hay có thể gọi tên nỗi nhớ ấy. Chính vì vậy mà nữ thi nhân đã mượn khung cảnh bức tranh thiên nhiên bóng xế tà để nói lên tâm trạng của mình:

Câu thơ mở đầu gợi lên cho chúng ta một khung cảnh thiên nhiên vào lúc “xế tà”, thời gian dần chuyển từ chiều sang tối. Phải chăng đây chính là khoảng thời gian nhạy cảm nhất trong ngày đưa tâm trạng con người trở về với những miền nỗi nhớ, những nỗi buồn man mác không tên. Thời gian “xế tà” kết hợp với không gian hoang vu hẻo lánh của đèo Ngang đã làm cho lòng người càng thêm trĩu nặng hơn.

Tâm trạng của thi nhân bỗng có chút thay đổi khi được chứng kiến cuộc sống sinh hoạt của người dân ở dưới chân đèo. Nỗi nhớ nước thương nhà như được lan tỏa vào muôn vàn cảnh vật. Bức tranh đượm buồn ấy bỗng trở nên sinh động hơn khi “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” để tranh giành nhau sự sống. Phải chăng trong lòng nhà thơ cũng có chút liên tưởng về những thân phận người phụ nữ bị chèn ép trong xã hội cũ, thế nhưng họ vẫn rất mạnh mẽ đi tìm một lẽ sống cho riêng mình.

Đứng từ độ cao hàng trăm mét nhìn xuống, nhà thơ có cái nhìn bao quát lên vạn vật. Nơi đây hoang vu nhưng vẫn có sự xuất hiện của con người cho thấy sự sống vẫn còn tiếp diễn khi “Lom khom dưới núi, tiều vài chú/ Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”. Ở dưới chân đèo kia, vẫn có những con người đi kiếm củi vì cuộc sống mưu sinh vất vả, vì bữa cơm manh áo hằng ngày.

Điểm nhìn của nhà thơ có sự dịch chuyển từ cảnh vật sang con người nhưng lạ thay khung cảnh ấy vẫn rất hiu quạnh, nặng nề. Phải chăng vài chú tiều chuyên nghề đốn củi cũng không thể phá vỡ không gian yên tĩnh nơi đây? Nhà thơ sử dụng từ láy gợi hình “lom khom” cho thấy những bóng hình bé nhỏ dưới chân núi cũng đang rất vất vả và vội vã gánh củi về nhà trước khi trời đã xế chiều. Nhà thơ phóng tầm mắt ra xa hơn thì thấy “Lác đác bên sông, chợ mấy nhà”.

Khi nhắc đến chợ, ta thường liên tưởng ngay đến một khung cảnh nhộn nhịp, mua bán diễn ra tấp nập nhưng ở đây, chợ lại vô cùng vắng vẻ, tiêu điều cũng chẳng thấy một dáng người qua lại và cũng chỉ “lác đác bên sông” mấy cái nhà trơ trọi. Nhà thơ đang luôn mong ngóng được thấy những chân trời mới tốt đẹp hơn khi đặt chân đến vùng đất mới nhưng sự sống mỏng manh, thưa thớt lại càng làm cho cảnh vật trở nên u sầu hơn.

Nhà thơ đã đảo vị ngữ “lom khom”, “lác đác” lên đầu câu thơ cho ta thấy những sự sống hiếm hoi, lẻ bóng nơi đây cũng rất xa xôi để nhà thơ có thể cùng bầu bạn, trút bầu tâm sự. Việc sử dụng hai từ láy “lom khom”, “lác đác” vừa có tính gợi hình cao lại vừa có tính ước lệ rõ nét. Nhưng tất cả cũng không thể diễn tả được dòng cảm xúc của nhà thơ lúc này. Chắc hẳn, nhà thơ phải yêu và nhớ quê hương lắm mới có thể tạo nên bức tranh tinh tế đến vậy.

Nỗi nhớ ấy cứ trực trào và trỗi dậy mãnh liệt hơn khiến nhà thơ phải thốt lên rằng:

Trong không gian yên tĩnh, hiu quạnh của núi đèo bỗng chợt đâu đó vang lên tiếng kêu của con chim cuốc, chim da da trong bối cảnh chiều buồn càng gợi lên nỗi tan tác, bi thương hơn. Điệp âm “con quốc quốc” và “cái gia gia” đã tạo nên những âm điệu êm đềm, du dương nhưng cũng rất não nề, buồn thấu tâm can. Phải chăng dụng ý chơi chữ của nhà thơ viết rằng con “quốc quốc” và cái “gia gia” chính là sợi dây liên kết giữa tiếng kêu của loài chim rừng với nỗi nhớ về Tổ quốc, về gia đình của nhà thơ.

Nhà thơ đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật “lấy động tả tĩnh”, lấy tiếng kêu của loài chim rừng để làm nổi bật bối cảnh yên ắng, quạnh hiu của buổi chiều muộn khiến cho tiếng chim bỗng chốc càng trở nên não nề, thê lương hơn bao giờ hết. Nghe tiếng chim kêu nhà thơ càng đau lòng và càng nhớ về quê hương, gia đình nhiều hơn, thương cảnh nước nhà đang rối ren, loạn lạc, li tán, gia đình thì hợp tan mà phận nữ nhi không thể cầm giáo ra giết giặc trên chiến trường khiến nhà thơ càng cảm thấy đau lòng.

Giữa chốn đèo cao hẻo lánh, tiếng chim cuốc, chim đa vang lên chính là tiếng lòng nhớ nước, thương nhà của nữ thi nhân. Giữa cái bao la vô tận của núi rừng đối lập với bóng hình bé nhỏ bơ vơ một mình của nhà thơ đã khiến nhà thơ phải “Dừng chân đứng lại” để ngắm trời, non sông, đất nước của mình bỗng đẹp như “gấm hoa” bởi:

Nỗi niềm chất chứa trong tâm hồn nhà thơ khiến nhà thơ xúc động đến bồn chồn trước cảnh non nước hữu tình nên phải “dừng chân đứng lại” để tận hưởng, để ngắm nhìn tinh hoa đất trời. Thế nhưng nhà thơ vẫn cảm thấy cô đơn, lạc lõng khi chỉ còn “Một mảnh tình riêng, ta với ta”. Thủ pháp đối lập, nhà thơ đã lấy cái bao la, mênh mông của đất trời để làm nổi bật lên một thân phận bé nhỏ, “một mảnh tình riêng”.

Trong bức tranh thiên nhiên ấy tuy có sự xuất hiện của con người, nhưng họ ở rất xa xôi và thưa thớt, sự sống hiện lên rất yếu ớt bởi vậy mà nhà thơ cũng cảm thấy có chút xót xa cho thân phận của mình, bà thật mạnh mẽ và táo bạo khi chọn cho mình một hướng đi mới. Vũ trụ thì thật bao la và rộng lớn khiến cho con người càng cảm thấy mình cô đơn, bé nhỏ hơn.

Khi không gian tĩnh lặng, ở đây chỉ có một mình bà “ta với ta” hòa quyện cùng mảnh tình riêng cho đất nước đã làm ta gợi nhớ đến câu thơ của nhà thơ Nguyễn Khuyến: “Bác đến chơi đây ta với ta”. Thế nhưng sự kết hợp giữa “ta với ta” trong thơ của Nguyễn Khuyến có nghĩa rằng tuy hai mà một, tuy một mà hai.

Cái “ta” đó không phải cái ta cô đơn, cái “ta” đó chính là cái “ta” được hòa quyện giữa hai tâm hồn vào chung một thể xác. Còn với Bà Huyện Thanh Quan, cái “ta” chính là cái “ta” đơn độc, lẻ bóng với nỗi sầu nhớ nước, thương nhà khôn xiết. Qua đó, ta càng thấm thía hơn nỗi niềm giấu kín không thể giãi bày của nhà thơ.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” đã thể hiện thành công một phong cách nghệ thuật rất sáng tạo và đặc biệt của Bà Huyện Thanh Quan. Những tình cảm đặc biệt nhà thơ đều dành trọn cho quê hương đất nước, cho gia đình của mình bởi vậy bài thơ đã được giới trẻ đón nhận một cách nồng nhiệt.

Bài thơ chính là một tuyệt phẩm về nghệ thuật “tả cảnh ngụ tình”, mượn không gian yên tĩnh của núi rừng để bày tỏ tình cảm nhớ nước, thương nhà luôn thường trực của thi nhân. Tác giả đã để lại cho chúng ta những bài học đắt giá về tình yêu quê hương, đất nước bởi mỗi chúng ta sinh ra đều có một quê hương để trở về và tôi cũng vậy, quê hương của tôi chính là Việt Nam thân yêu!

Giới thiệu cùng bạn 🍀 Nghị Luận Đây Thôn Vĩ Dạ 🍀 15 Bài Văn Ngắn Hay Nhất

Tham khảo bài cảm nhận ngắn về bài thơ Qua đèo Ngang sẽ giúp các em học sinh ôn tập hiệu quả với những ý văn ngắn gọn và luận điểm cơ bản nhất.

Trong nền văn học trung đại nếu như chúng ta bắt gặp sự sắc sảo, mạnh mẽ, bứt phá trong thơ của Hồ Xuân Hương thì chắc hẳn rằng sẽ thấy được sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ “Qua đèo Ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” được sáng tác khi tác giả vào Phú Xuân (Huế) nhận chức và đi qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết. Chỉ 8 câu thơ nhưng nó đã diễn tả được hết cái thần thái, cái hồn của cảnh vật cũng như của con người khi đứng trước cảnh trời núi hiu quạnh và lòng người man mác như thế này.

Hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo Ngang:

Không gian và thời gian ở đèo Ngang được tác giả thể hiện qua từ “bóng xế tà”. Có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. Trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai.

Mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này. Cảm giác cô đơn, lạc lõng. Cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. Chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ “chen” dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. Hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi.

Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là “tiều vài chú”. Hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. Mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. Với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, Bà Huyện Thanh Quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hịu quạnh của đèo Ngang.

Việc sử dụng hai từ láy “lom khom” và “lác đác” vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ thể. Những hình ảnh ước lệ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. Những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. Muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn.

Sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy

Điệp âm “con cuốc cuốc” và “cái da da” đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. Người lữ khách đường xa nghe vẳng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. Thủ pháp lấy động tả tĩnh của tác giả thật đắc điệu, trên cái nền tĩnh lặng, quanh quẽ bồng nhiên có tiếng chim kêu thực sự càng thêm não nề và thê lương.

Nghe tiếng cuốc, tiếng da da mà tác giả “nhớ nước” và “thương nhà”. Thương cảnh nước nhà đang chìm trong cảnh loạn lạc, gia đình li tan; thương cho thân gái phải xa nhà quạnh hiu, đơn độc. Nỗi lòng của bà huyện thanh quan như sâu thẳm tầng mây, trùng trùng điệp điệp không dứt.

Hai câu thơ kết thì cảm xúc và nỗi niềm của tác giả được đẩy lên đỉnh điểm

Chỉ bốn chữ “dừng chân nghỉ lại” cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chốn đến não nề. Cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy còn “một mảnh tình riêng”. Và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. Nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất.

Bài thơ “Qua đèo Ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ pháp nghệ thuật độc đáo đã mang đến cho người đọc cảm xúc khó quên. Dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây.

Xem nhiều hơn 🌟 Nghị Luận Về Bài Thơ Nói Với Con 🌟 15 Bài Văn Ngắn Hay

Xã hội phong kiến luôn có sự chèn ép, ràng buộc tự do của những người phụ nữ bất hạnh, chỉ sống phụ thuộc, không làm chủ cho bản thân mình. Xã hội hiện đại bây giờ, phụ nữ luôn được tôn trọng, bình đẳng, không phân biệt đối xử như ngày xưa nữa.

Tình cảm yêu mến, muốn được bảo vệ hạnh phúc tự do cho mình, cũng không hề kém cạnh các đại nam nhi. Đối với bà Huyện Thanh Quan tuy không đi ra chiến trường chiến đấu, nhưng bà đã gửi gắm tinh thần, sự cổ động mạnh mẽ vào thơ, để tiếp thêm một phần sức mạnh, công lao của mình cho đất nước.

“Qua đèo ngang” gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà Huyện Thanh Quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. Bài thơ “Qua đèo ngang” được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào Phú Xuân(Huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đường xa. Bài thơ được sáng tác theo thể thấy ngôn bát cú. Với 8 câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.

Hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc “bóng xế tà”. Một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. Tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. Chỉ có “cây cỏ chen lá, đá chen hoa” hiu quạnh. Điệp từ “chen” khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.

Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bóng dáng của con người. “người tiều phu” đi lượm củi vẫn tạo cảm giác vô định, “lom khom” từ ngữ nhấn mạnh thể hiện sự vất vả của người tiều phu, phải đi kiếm từng khúc củi, ước tính số lượng cụ thể, sự sống hiếm hoi, xa vời, tìm một người bạn trở nên khó khăn hơn.

Tiếp đến hai câu thơ luận phần nào cảm xúc của tác giả như được thể hiện rõ nét hơn:

Giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. Mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. Tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?

Cái bao la, vô tận của non nước làm chơi vơi bóng hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh – hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi buồn da diết bị lắng đọng cùng.

Tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày “ta với ta” nghe chua xót. Chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. Dù sầu muội như bà Huyện Thanh Quan vẫn cảm nhận được vẻ đẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng đã tô lên vẻ đẹp hùng vĩ, bao la của núi rừng.

Bài thơ “Qua Đèo Ngang” vừa gợi lên một bức tranh về cảnh đẹp thiên nhiên núi rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi ra khung cảnh sống giản dị, đơn sơ mà ấm áp. Từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, đất nước da diết khi xa quê hương, lẻ loi một bóng hình nơi đất khách quê người.

Mời bạn tham khảo 💧 Bình Giảng Đất Nước 💧 15 Bài Văn Ngắn Gọn Hay Nhất

Đón đọc bài biểu cảm về bài Qua đèo Ngang ngắn nhất chọn lọc giúp các em học sinh có thêm cho mình những gợi ý làm bài phong phú hơn.

Tác phẩm “Qua Đèo Ngang” là bài thơ đánh dấu tên tuổi của Bà Huyện Thanh Quan. Bài thơ ra đời vào thời điểm bà trên đường vào Phú Xuân, đi Qua Đèo Ngang, một con đèo nổi tiếng tiếng với phong cảnh hữu tình. Bằng giọng thơ buồn man mác, hồn thơ tinh tế đi vào lòng người “Qua Đèo Ngang” không còn là một bức tranh thiên niên đơn thuần mà còn bộc lộ tâm trạng cô đơn của nữ thi sĩ với sự tiếc nuối và buồn về thế sự đất nước lúc bấy giờ.

Sự sáng tạo nhưng vẫn có nét truyền thống, bài thơ được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật với kết cấu đề thực luận kết. Mở đầu tứ thơ với hai câu đề:

Hai câu thơ đầu tiên thi sĩ đã khai mở toàn bộ không gian, thời gian khi sáng tác bài thơ. Hai câu thơ đề với lối thơ rất tự nhiên, không bị gò ép trong khuôn khổ chung thời ấy. Trong cảnh hoàng hôn “bóng xế tà”, nữ thi sĩ bước đến mang trong mình những cảm xúc khó tả, say đắm trong không gian rộng lớn sâu thẳm của đèo cao, thời gian mênh mông của trời chiều.

Bao giờ cũng vậy, trong thi ca trung đại, “bóng xế tà” luôn gợi cho con người một nỗi buồn man mác không tên, mênh mang hơn đất trời, có chút gì đó lưu luyến thời gian của một ngày đã qua. Trong không gian chiều ấy, một nét chấm phá làm nổi bất thiên nhiên nơi đèo núi chập chùng: “Cỏ cây chen đá, lá chen hoa”.

Khi hoàng hôn buông dần phai, không gian ngày tàn mà tác giả còn bắt gặp được một sức sống tiềm tàng của thiên nhiên. Sử dụng phép nhân hóa, kết hợp động từ “chen” nữ thi sĩ như thổi vào thiên nhiên một linh hồn với sự sống mãnh liệt, đang vươn lên. Từ ngọn cỏ, từng nhành hoa nhỏ bé kia đang chen lên những tảng đá lớn, giữa một không gian ấy, cảnh vật mang một nét đẹp lạ lùng.

Từ gần đến xa, tác giả đưa mắt ra phía dưới đèo, con người xuất hiện:

Bức tranh chỉ thêm đẹp khi có sự xuất hiện của con người. Biện pháp đảo ngữ các từ láy gợi tả như “lom khom” , “lác đác” và các chỉ từ “vài” , “mấy” làm không gian trở nên hiu hắt, con người thì quá đỗi nhỏ bé so với thiên nhiên hùng vĩ chiều hôm. Dưới chân núi, vài chú tiều phu đốn củi, và mái nhà thưa thớt quanh quanh. Không gian bao trùm lên toàn bộ cảnh vật là sự hiu quạnh và vắng vẻ.

Hai câu luận là nỗi buồn của thi sĩ trước cảnh giang sơn đất nước đang ngày một lụi tàn:

Tiếng kêu của con quốc hay chính là tiếng lòng tác giả. “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc” là câu thơ bắt nguồn từ điển tích xưa về vua Thục vì mất nước mà hóa thành con cuốc chỉ biết kêu những tiếng đau thường. Tiếng cuốc kêu khắc khoải càng làm bóng chiều trở nên dịu vợi. Còn tiếng “gia gia” là tiếng kêu tha thiết gợi nỗi “thương nhà”.

Thương nhà ở đây có lẽ là nỗi nhớ thương đất nước trong quá khứ hào hùng hay cũng là thương cho sự đổi thay, sự lụi tàn của quê hương. Những xúc cảm của thi sĩ được bộc lộ một cách trực tiếp bằng hai câu luận. Nghệ thuật chơi chữ đồng âm độc đáo kết hợp với biện pháp nhân hóa ” đau lòng” “mỏi miệng” cùng chuyển đổi cảm giác từ nỗi lòng thành tiếng thương tạo ấn tượng mạnh đã cho ta thấy bức tranh ấy không chỉ là cảnh vật mà còn là bức tranh tâm trạng của Bà Huyện Thanh Quan với tình yêu thương nước nhà.

Với kết cấu đầu cuối tương ứng, hai câu kết khép lại những tâm trạng của thi nhân:

Cảnh vật khiến dừng bước chân trên con đường đến Phú Xuân. Cái bao la của đất trời, cái hùng vĩ của núi non, cái mênh mông của sông nước như níu bước chân nữ thi sĩ. Nhưng đứng trước không gian bao la của đèo Ngang , tác giả chợt nhận ra nỗi cô đơn trong lòng mình dần lấp đầy tâm hồn, bao trùm lên mọi cảnh vật”một mảnh tình riêng ta với ta”.

Khung cảnh thiên nhiên càng rộng lớn bao nhiêu thì nỗi cô đơn của người lữ khách càng vơi đầy. Một mảnh tình riêng, một tâm tư sâu kín, những tâm trong lòng mà chẳng tìm nổi một người để sẻ chia. Nỗi buồn cứ vậy lắng vào cảnh vật, tâm trạng kéo dài miên man. Chỉ có “ta” và “ta” giữa mênh mông trời đất.

Bài thơ khép lại, mở ra những suy tư cho người đọc. Khiến người ta nhớ về một thời đại lụi tàn, một nữ thi sĩ bơ vơ. Bức tranh cảnh vật và tâm trạng ấy để lại biết bao cảm xúc trong lòng người đọc.

Đọc nhiều hơn với 🔥 Bình Giảng Câu Cá Mùa Thu 🔥 Bình Giảng Thu Điếu

Cập nhật thông tin chi tiết về “Những Góc Nhìn Sâu Sắc Về Cảm Xúc Buồn Qua Các Tác Phẩm Hoạt Hình Tuyệt Đẹp” trên website Yvju.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!